- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma t…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:190 /2022/HSST Ngày: 25/10/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ – THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Lương Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Yêm
2. Ông Nguyễn Duy May
- Thư ký phiên toà:Bà Trương thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố H
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố H tham gia phiên toà:Bà Nguyễn Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 25/10/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố H xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 176/2022/HSST ngày 10/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2022/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn T; Giới tính: Nam ;Tên gọi khác:Không;Sinh năm:2003 tại Y;Nơi ĐKHK: Bản Đ, P, thị xã N, tỉnh Y;Quốc tịch:Việt Nam ; Dân tộc: T; Tôn giáo: Không;Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Con ông: Hà Văn C;
Sinh năm:1974;Con bà: Đồng Thị T Sinh năm:1977
;Gia đình bị can có 04chị em, bị can là con út;Bị can chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa) Người bào chữa cho bị cáo Triển: Ông Vũ Văn D– Trợ giúp viên pháp lý chi
nhánh số 5- Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 8 giờ 30 phút ngày 30/6/2022, Công an xã Đ, huyện Đ làm nhiệm vụ kiểm tra tại khu vực bãi T, thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố H phát hiện H Triển (sinh năm: 2003, Trú tại: Bản Đ, P, Thị xã N, tỉnh Y) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện và tạm giữ: tại túi quần bò bên trái phía trước 01 túi nilong màu trắng kích thước (5x8)cm có 03 gói giấy đều có kích thước (1x2)cm bên trong các gói giấy chứa chất bột dạng cục nghi là ma túy heroine; tại túi quần bò bên trái phía sau có 01 gói giấy kích thước (1x2)cm chứa chất bột dạng cục nghi là ma túy heroine; tại túi quần bên phải phía trước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 210.000 đồng, 01 chứng minh thư nhân dân, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm, 01 thẻ ngân hàng đều mang tên Hà Văn T.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản và đưa Hà Văn T về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Văn T không phát hiện thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 4776/KL-KTHS ngày 08/7/2022 của phòng kỹ thuật hình sự -Công an thành phố H:
- Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng:0,129 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng:0,033 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn T khai nhận: Khoảng 10h00 phút ngày 29/6/2022 Triển đi từ phòng trọ tại thôn M, xã P, huyện Q, tỉnh Bđến khu vực huyện T, tỉnh B đi tìm việc làm thì gặp một người đàn ông không quen biết. Triển nói biết lái máy xúc nên người này giới thiệu và chở T đến khu vực bãi cát thôn M, xã Đ, huyện Đ để lái máy xúc thuê. Do không mang theo giấy tờ tùy thân nên T chưa xin được việc làm và người đàn ông chở T quay lại phòng trọ. Khoảng 07h00’ ngày 30/6/2022 T đi xe buýt từ phòng trọ của T đến khu vực huyện T, tỉnh B mua 04 (bốn) gói ma túy Heroine với giá 400.000đ của một người đàn ông không quen biết. T bỏ một gói cho vào túi quần bên trái phía sau mục đích để sử dụng trước, ba gói còn lại T để trong túi quầnphía trước bên trái để sử dụng dần. Sau đó, T đi gặp người đàn ông giới thiệu xin việc (lái máy xúc) cho T ở T, tỉnh B và nhờ người này chở đến khu vực bãi cát thôn M, xã Đ, huyện Đ để xin việc. Khi đến nơi, T xuống xe đi vào khu vực bãi cát, còn người đàn ông trên đi đâu thì T không biết. Khi đang trên đường đi ra thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.
Mục đích T mua và tàng trữ số ma túy trên để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T tại khu vực huyện T, tỉnh B và người đàn ông chở T đi xin việc làm tại khu vực xã Đ, huyện Đ, T khai không rõ họ tên, địa chỉ nơi ở cụ thể và không rõ đặc điểm nhận dạng của những người này do khi gặp T thì những người này đều đội mũ và đeo khẩu trang. Xét thấy ngoài lời khai của Hà Văn T không còn tài liệu nào khác chứng minh được nhân thân, lai lịch của những người này nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01điện thoại di động Iphone màu trắng không lắp sim; 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 chứng minh thư nhân dân, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm, 01 thẻ ngân hàng đều mang tên Hà Văn T là tài sản của Hà Văn T. Ngày 23/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Lò Văn Đ (sinh năm:1995; trú tại: thôn H, xã T, thị xã N, tỉnh Y, là anh rể của Hà Văn T).
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,162 gam ma túy Heroine và số tiền 210.000 đồng (Hai trăm mười nghìn đồng) là vật chứng vụ án nên chuyển Toà án nhân dân huyện Đ để phục vụ công tác xét xử.
Tại bản Cáo trạng số 180/CT-VKS-ĐA ngày 05/10/2022 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Hà Văn T:Từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo .
Về phần vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,162 gam ma túy loại Heroine; Tịch thu sung công: số tiền 210.000 đồng thu giữ của Hà Văn T
Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T phát biểu quan điểm đề nghị hội đồng xét xử:
- Về tội danh của bị cáo Hà Văn T luật sư không có ý kiến gì.
- Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải.
- Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
- Bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức hạn chế. Từ các căn cứ trên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91,100 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt tiền bị cáo và cho bị cáo được miễn tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 08 giờ 30’ngày 30/6/2022, Hà Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,162 gam ma túy loại Heroine để sử dụng thì bịCơ quan Công an phát hiện bắt giữ tại thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố H.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo chưa có tiền án ,tiền sự.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểms khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015cho thấy bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân nên cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án : Tịch thu tiêu hủy: 0,162 gam ma túy loại Heroine Tịch thu sung công: số tiền 210.000 đồng thu giữ của Hà Văn Triển
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ : khoản 1,5 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51,Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Hà Văn T 15 ( Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/06/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 0,162 gam ma túy loại Heroine .Tịch thu sung công: số tiền 210.000 đồng thu giữ của Hà Văn Triển (theo biên bản bàn giao vật chứng và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 05/10/2022 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ) .
Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS ND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Lƣơng Vân |