- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Chương - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 190/2022/HS-ST Ngày 09/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư;
Ông Nguyễn Văn Bảng.
- Thư ký phiên toà: Bà Tống Lan Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Trí – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 11 năm 2022, tại: Điểm cầu Trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B và Điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2022/TLST-HS, ngày 13 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến C, sinh năm 1981; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Minh Phượng, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tiến Đường, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1953; vợ: Đào Thị Thủy, sinh năm 1983; con: Có 02 con, sinh năm 2004 và 2005;
Tiền án: Bản án số: 61/2016/HSST ngày 27/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.;
Tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 20/4/2007 bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/3/2008 bị Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/10/2010 bị Công an phường Mỹ Độ, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 04/08/2011 bị Công an phường Trần Nguyên Hãn, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bản án số: 129/2008/HSST ngày 27/8/2008 của Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bản án số: 41/2012/HSST ngày 30/5/2012 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Công ty cổ phần quản lý công trình đô thị B; địa chỉ: Số 282, đường Thân Nhân Trung, xã Tân Mỹ, thành phố B, tỉnh B; người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Duy Lượng – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá Cường - Chức vụ: Đội trưởng Đội quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, Giấy ủy quyền số: 07/GUQ-CTĐT ngày 14/8/2022 (vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Lành, sinh năm 1983; trú tại: Tổ dân phố Minh Phượng, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh B (vắng mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Anh Dương Xuân Minh, sinh năm 1979 trú tại thôn Xuân, xã Tân Tiến, thành phố B, tỉnh B.
(vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 14/08/2022, Nguyễn Tiến C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-853.46 đi đến khu đô thị phía Nam thuộc thôn Xuân, xã Tân Tiến, thành phố B mục đích để trộm cắp các song chắn rác lắp tại cống thoát nước trên đường. Khi đi, bị cáo đem theo 01 thanh xà cầy làm công cụ trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường Huỳnh Thúc Kháng, bị cáo đỗ xe ở lề đường rồi cầm thanh xà cầy đi bộ khu vực xung quanh tìm vị trí cống thoát nước có lắp đặt song chắn rác. Quan sát xung quanh không thấy có ai trông coi, bị cáo dùng xà cầy cậy được 01 đoạn sắt V và 01 bộ song chắn rác bằng gang cất vào trong vỏ bao xi măng rồi để phía sau yên xe. Bị cáo đi đến vị trí cống thoát nước thứ hai tiếp tục sử dụng xà cầy cậy được 03 đoạn sắt V và 01 bộ song chắn rác rồi cho vào vỏ bao xi măng. Đến vị trí cống thoát nước thứ ba dùng xà cầy cậy được 03 thanh sắt V và 01 bộ song chắn rác. Do bao xi măng đã đầy nên bị cáo điều khiển xe mô tô đi ra đường gom cao tốc cất giấu số tài sản này rồi quay lại để tiếp tục trộm cắp. Bị cáo dùng xà cầy cậy được 03 đoạn sắt V và 01 bộ song chắn rác, bỏ vào bao xi măng để phía sau xe mô tô rồi điều khiển xe đi đến vị trí cống thoát nước thứ năm, bị cáo xuống xe và dùng chân gạt rác ra khỏi cống thoát nước để trộm cắp song chắn rác thì bị anh Dương Xuân Minh phát hiện bắt quả tang và báo cho Công an thành phố B đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tiến C và thu giữ tang vật gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-853.46; 01 bộ song chắc rác; 03 thanh kim loại chữ V; 01 thanh xà cầy bằng kim loại; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 và số tiền 127.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 137/KL-HĐĐG ngày 15/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- 04 bộ song chắn rác bằng gang, có bản lề, khung 570 x 335 x 40mm, kích thước lắp là 520 x 330(mm), tải trọng 12,5 tấn, trọng lượng đều là 17,5kg/01 chiếc, tổng trọng lượng là 70kg, lắp đặt tháng 4/2019 đã qua sử dụng, có tổng trị giá tại thời điểm ngày 14/8/2022 là 37.000 đồng/1kg x 70kg = 2.590.000 đồng.
- 12 đoạn sắt (V) có tổng trọng lượng là 12kg, đã qua sử dụng, có tổng trị giá tại thời điểm ngày 14/8/2022 là 20.000 đồng/1kg x 12kg = 240.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 166/KL-HĐĐG ngày 25/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- 01 bộ song chắn rác, bằng gang, có bản lền, khung 570 x 335 x 40mm, kích thước lắp là 520 x 330(mm), tải trọng 12,5 tấn, trọng lượng là 17,5kg/01 chiếc, lắp đặt tháng 4/2019, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 14/8/2022 là 37.000 đồng/1kg x 17,5kg = 647.500 đồng;
- 01 đoạn sắt (V) có tổng trọng lượng là 01 kg, đã qua sử dụng, có tổng trị giá tại thời điểm ngày 14/8/2022 là 20.000 đồng/1kg x 01kg = 20.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số: 178/CT-VKS ngày 12/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Nguyễn Tiến C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Tiến C khai nhận toàn bộ hành vi như sau: Bị cáo thừa nhận bị cáo trộm cắp tài sản như Bản cáo trạng nêu là đúng. Khoảng 19 giờ ngày 14/08/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-853.46 đi đến khu đô thị phía Nam thuộc thôn Xuân, xã Tân Tiến, thành phố B mục đích để trộm cắp các song chắn rác lắp tại cống thoát nước trên đường. Khi đi, bị cáo đem theo 01 thanh xà cầy làm công cụ trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường Huỳnh Thúc Kháng, bị cáo trộm cắp đoạn sắt V và song chắn rác bằng gang thì bị người khác phát hiện bắt quả tang và báo cho Công an thành phố B. Khi bị bắt bị cáo bị thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-853.46; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 và số tiền 127.000 đồng. Bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại số tiền 2.082.000 đồng. Nay bị cáo thấy hành vi là sai trái, là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đại diện Công ty Cổ phần Quản lý công trình đô thị B, ông Nguyễn Bá Cường có lời khai xác định: Ngày 14/8/2022, tại khu vực phía Nam thuộc Thôn Xuân, xã Tân Tiến, thành phố B, Nguyễn Tiến C đã thực hiện hành vi trộm cắp 04 bộ song chắn rác bằng gang và 10 đoạn sắt (V) là các bộ phận công trình do Công ty quản lý. Nay đại diện Công ty, ông đề nghị các cơ quan pháp luật xử lý vụ án theo quy định của pháp luật và yêu cầu bị cáo bồi thường cho Công ty số tiền 2.082.500 đồng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đào Thị Lành xác định: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1-853.46 là tài sản của chị. Ngày 14/8/2022, chị cho bị cáo mượn, chị không biết bị cáo dùng để đi trộm cắp tài sản, chị đã được cơ quan Công an trả lại. Nay, chị không có yêu cầu gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về áp dụng điều luật và mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến C từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 15/8/2022).
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến C số tiền 127.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh xà cầy bằng kim loại.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Quản lý công trình đô thị B số tiền 2.082.500 đồng.
4. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi trộm cắp tài sản là sai trái, là vi phạm pháp luật, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về tội danh: Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Buổi tối ngày 14/08/2022, tại khu đô thị phía Nam thuộc thôn Xuân, xã Tân Tiến, thành phố B, bị cáo Nguyễn Tiến C đã trộm cắp các song chắn rác lắp tại cống thoát nước trên đường. Bị cáo đã trộm cắp được 04 bộ song chắn rác và 12 đoạn sắt (V). Tổng giá trị tài sản do bị cáo trộm cắp là 3.497.500 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác.
Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội: “Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Do đó, Cáo trạng số: 178/CT-VKS ngày 12/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh B truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tiến C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết như sau:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có một tiền án, nay lại phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Cần buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội, để giáo dục bị cáo theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Qua tài liệu lý lịch của bị cáo thì thấy, bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.082.500 đồng, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 48 của bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự chấp nhận.
. Về vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến C số tiền 127.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh xà cầy bằng kim loại.
. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Quản lý công trình đô thị B số tiền 2.082.500 đồng.
. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.
. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2022.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến C số tiền 127.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh xà cầy bằng kim loại.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến C phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Quản lý công trình đô thị B số tiền 2.082.500 đồng (hai triệu, không trăm, tám mươi hai nghìn, năm trăm đồng).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy đinh tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tp B; - VKSND tỉnh B; - Công an tp B; - TAND tỉnh B; - Chi cục THADS TP B; - Sở Tư pháp B; - Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Huệ – Phạm Thị Hải Huyền | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Trần Kiên THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Kiên |