- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 190/2022/HS-ST Ngày: 27/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tú
2. Ông Nguyễn Văn Tài
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 172/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với:
Bị cáo: Trần Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1986, tại An Giang.
Nơi đăng ký HKTT: ấp Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: Thăng Long, phường 4, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ho sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị V sinh năm 1947; có vợ Vũ Thị G (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2008.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01
- Ngày 25/6/2020, bị Công an xã Tân Hà, huyện Tân Châu tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị tạm giam ngày 22/8/2022 đến nay tại trại tạm giam T30.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
+ Bị hại: Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Thạnh Hưng, xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, Tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 2 giờ ngày 14/11/2020, Trần Văn T đi bộ từ Quốc Lộ 13 đến đường Phạm Văn Đồng rẽ vào đường Đặng Thùy Trâm phường 13 quận Bình Thạnh, sau đó rẽ vào hẻm 23 bên tay trái có 01 công trình xây dựng nhà ở, có 01 người đàn ông ngủ trong mùng, để điện thoại OPPO ngay cạnh đầu nằm, T lén lấy trộm điện thoại OPPO bỏ vào túi quần bên phải và tiếp tục đi đến công trình xây dựng nhà ở, cạnh nhà Đặng Thùy Trâm phường 13 quận Bình Thạnh, lên tầng 1 nhìn thấy anh Nguyễn Văn Tr đang nằm ngủ trên võng, điện thoại di động hiệu VSMART đang sạc pin để ngay đầu nằm dưới võng. T gỡ dây sạc lấy trộm điện thoại VSMART bỏ vào túi quần bên phải. Sau đó quay trở ra tới đầu hẻm 23 Đặng Thùy Trâm bị lực lượng tuần tra Công an phường 13 mời và đưa về trụ sở Công an phường để làm việc. T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Qua xác minh và khảo sát giá điện thoại là 400.000 đồng nên ngày 16/11/2020, Công an phường 13 quận Bình Thạnh ra Quyết định số 0006475 xử phạt hành chính Trần Văn T về hành vi trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/CP.
Ngày 22/4/2021, Trần Văn T tiếp tục đến công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ tại địa chỉ khu phố 2 phường Tân Thới Nhất Quận 12 mục đích để trộm cắp tài sản nhưng chưa thực hiện hành vi thì bị phát hiện bắt giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch, tiền án, tiền sự của T thì phát hiện ngày 25/6/2020, Trần Văn T bị Công an xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tình Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản quy định điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/CP. Ngày 22/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 có thông báo kiến nghị khởi tố gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Bình Thạnh đối với trường hợp của T.
Quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Bình Thạnh hủy Quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Văn T, tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Văn T về tội trộm cắp tài sản và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với T. Do T không có mặt tại địa phương nên đến ngày 14/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can và ra Quyết định truy nã đối với Trần Văn T.
Ngày 22/8/2022, Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh bắt truy nã đối với Trần Văn T. Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 381 ngày 31/12/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận:
- 01 điện thoại di động VSMART màu xanh đen, Model V230A đã qua sử dụng có giá trị là 400.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng không đủ cơ sở để định giá.
Vật chứng gồm:
- 01 điện thoại di động hiệu VSMART. Đây là tài sản của anh Nguyễn Văn Tr, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho anh Trắc.
- 01 điện thoại hiệu OPPO màu xanh, ốp lưng màu đen. Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh tìm chủ sở hữu.
- Trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn Tr đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSBTh ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo hình phạt từ giam, với mức hình phạt năm 06 tháng đến 09 tháng tù giam.
- Về các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 điện thoại di động hiệu VSMART. Đây là tài sản của anh Nguyễn Văn Tr, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho anh Trắc.
- 01 điện thoại hiệu OPPO màu xanh, ốp lưng màu đen. Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh tìm chủ sở hữu.
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về xã hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, cũng không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra, bị hại đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh:
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào lời khai nhận tội bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn T lợi dụng sơ hở của anh Tr nên bị cáo lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu VSMART trị giá 400.000 đồng. Mục đích trộm cắp để bán tiêu xài cá nhân cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 145/KLĐGTS-TCKH ngày 14/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: 01 điện thoại di động hiệu VSMART trị giá 400.000 đồng.
Với hành vi như đã nêu trên của bị cáo, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách hiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để nhận biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm điện thoại di động của anh Tr, đây là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh xã hội, gây hoang mang cho người dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tù giam là phù hợp, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, hậu quả đã được khắc phục, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội và xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu VSMART. Đây là tài sản của anh Nguyễn Văn Tr, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho anh Trắc.
- 01 điện thoại hiệu OPPO màu xanh, ốp lưng màu đen. Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh tìm chủ sở hữu và xử lý sau.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp, Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND quận Bình Thạnh; - Công an quận Bình Thạnh; - Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Trại giam; - Công an Tp. Hồ Chí Minh-PC53; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Minh Thuận |