vanban.org

Bản án 190/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 31/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn D (tên gọi khác Quách Văn D) 36(Ba mươi sáu) tháng tù về tội "Vận chuyển hàng cấm". Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn D (tên gọi khác Quách Văn D) 36(Ba mươi sáu) tháng tù về tội "Vận chuyển hàng cấm". Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2022.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Cho tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:190/2022/HS-ST
Ngày: 31/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thị Chấn

2- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 172/2022/TLST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2022/QĐXXST-HS ngày 19/10/2022, đối với bị cáo: Nguyễn Văn D (Tên gọi khác: Quách Văn D) - Sinh năm:1993; ĐKHKTT: Thôn Th, xã Th1, huyện Th2, Thanh Hóa.Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Mường ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12 ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Văn L - sinh 1962; Họ và tên mẹ: Quách Thị C - sinh 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: 02 tiền án (chưa xóa án tích)

- Tại bản án số 43/HSST ngày 12/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Th2, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2019.

- Tại bản án số 19/HSST ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/10/2021.

Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm

Bị cáo bắt quả tang ngày 03/8/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn M xã N, huyện G, Thành phố Hà Nội.

(Bị cáo D có mặt tại phiên tòa, anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ ngày 03/8/2022, Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về kinh tế - Công an huyện G phối hợp với Công xã N làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực gần nghĩa trang C3 thuộc thôn C1, xã N, huyện G, Hà Nội đã phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D (tên gọi khác: Quách Văn D), sinh: 1993, HKTT: Thôn Th, xã Th1, huyện Th2, Thanh Hóa đang có hành vi vận chuyển hàng cấm là pháo hoa nổ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn D:

- 05 khối hình hộp, kích thước mỗi hộp (16x16x10)cm, vỏ hộp có chữ nước ngoài, mỗi hộp có 49 ống trụ hình tròn là pháo hoa nổ;

- 20 khối hình tròn, chân hình trụ nối với dây dẫn màu xanh nghi là phao nổ;

- 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, model TA-1174, code: 23KJG74BH00, IMEI 1: 35786101055475, IMEI 2: 357683101055483, bên trong lắp sim sổ 0396054xxx, không kiểm tra chất lượng máy, đã qua sử dụng;

- Số tiền 200.000 đồng.

Tạm giữ của Nguyễn Bá T: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 37G1-174.66, số khung: RLHJA3925MY003989, số máy: JA39E2117749, đã qua sử dụng; 01 giấy đăng ký xe mô tô số: 000453 đăng ký ngày 24/02/2021 mag tên Lò Văn C2.

Tại Kết luận giám định số 5490/KLGĐ-PC09 ngày 10/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận:

- 05 khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối hộp (16x16x10) cm, ngoài được bọc giấy màu in chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp có 49 ống hình trụ tròn kích thước (10x2)cm đều là Pháo hoa nổ, tổng khối lượng 8,212 kg;

- 20 khối hình tròn, chân hình trụ nối với dây dẫn màu xanh đều là Pháo hoa nổ, tổng khối lượng 750,26 gam.

Tại Kết luận giám định số 6035/KLGD-PC09 ngày 05/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE đeo biển kiểm soát 37G1-174.66 gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHJA3925MY003989 và số máy: JA39E2117749 là số nguyên thủy.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận: Sáng ngày 03/8/2022, D gặp đối tượng tên H không rõ nhân thân tại gầm cầu cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên thuộc địa phận xã Y, huyện G. H thuê D vận chuyển pháo hoa nổ từ đường Đ, Y, G, Hà Nội đến khu vực nghĩa trang C3 thuộc xã N để giao cho khách. H trả công D số tiền 200.000 đồng thì D đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H thuê xe ôm của Nguyễn Bá T – Sinh 1982 trú tại Thôn M, N. G, Hà Nội chở đến khu vực đường Đ, Y để gặp D. Sau đó, anh T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 37G1-174.66 chở D và H đến nghĩa trang liệt sĩ xã Y1, huyện G. Tại đây, một nam thanh niên không rõ nhân thân đưa cho H túi bóng màu đen bên trong là pháo hoa nổ. H cầm và đưa lại cho D. H đưa cho D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bên trong lắp sim số 0396054xxx và nói trong danh bạ điện thoại có số điện thoại là 0382271xxx lưu tên là “Hang” và bảo D đi đến nghĩa trang C3 thuộc xã N, G, Hà Nội liên lạc số điện thoại là 0382271xxx có người đến lấy pháo. H đưa cho D 200.000 đồng là tiền công vận chuyển và thuê T chở D đến địa điểm giao hàng. Sau đó H bỏ đi còn T điều khiển xe máy BKS 37G1-174.66 chở D ngồi phía sau, ôm túi bóng màu đen chứa pháo hoa nổ trên đùi bên phải đi được khoảng 50 mét thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng như nêu trên. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng bán pháo hoa nổ cho H và đối tượng tên H thuê D vận chuyển pháo hoa nổ do không xác định được nhân thân nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Bá T là người được H thuê xe, T không biết việc H thuê xe để chở D vận chuyển pháo hoa nổ nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không có căn cứ xử lý.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, model TA-1174, code: 23kJG74BH00, IMEI 1: 35786101055475, IMEI 2: 357683101055483, bên trong lắp sim số 0396054xxx và số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn D đều liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, BKS: 37G1-174.66, số khung: RLHJA3925MY003989, số máy: JA39E2117749 thu giữ của Nguyễn Bá T, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Lô Văn C, sinh: 1974, HKTT: thôn B1, xã C4, huyện Q, Nghệ An. Ngày 01/8/2022, anh C cho T mượn để đi làm xe ôm. Anh T, anh C không biết việc chở D đi để vận chuyển hàng cấm là pháo hoa nổ. Do vậy, ngày 28/9/2022, Cơ quan CSĐT-Công an huyện G đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy cho anh Lô Văn C.

Đối với số điện thoại 0382271xxx, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là chị Trần Thị Ph, sinh: 1999 trú tại A, T, Th3, Đồng Tháp, có số chứng minh 341427xxx do Công an tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 24/02/2017. Quá trình xác minh: không có công dân Trần Thị Ph, sinh: 1999, có lý lịch nêu trên. Tuy nhiên Qua rà soát tại xã T, Th3, Đồng Tháp thể hiện có công dân Trần Thị Phướng, sinh: 09/9/1999, HKTT: Â, xã T1, Th3, Đồng Tháp, có số chứng minh nhân dân 341897xxx do Công an tỉnh Đồng Tháp cấp (chưa rõ ngày cấp). Hiện nay Ph không có mặt tại địa phương, không lấy được lời khai. Do vậy không có căn cứ xử lý.

Đối với số điện thoại 0396054xxx, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là bà Trương Thị D, sinh: 1946, địa chỉ: Đ, T1, S, Bắc Giang khai không liên quan đến số thuê bao 0396054xxx

Bản cáo trạng số: 172/CT-VKS-GL ngày 17-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác Quách Văn D) về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm l khoản 2 Điều 191 của BLHS.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm l khoản 1 Điều 191 Bộ luật

. hình sự

Về điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm l khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của BLHS. Điều 106 BLTTHS 2015.

Về mức án: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 26 đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2022.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số tang vật thu giữ của bị cáo gồm:

- 04 khối hình hộp, kích thước mỗi hộp (16x16x10)cm, vỏ hộp có chữ nước ngoài, mỗi hộp có 49 ống trụ hình tròn là pháo hoa nổ có tổng khối lượng 6,598kg ( Đã trừ đi 01 khối hình hộp có khối lượng 1,614kg phục vụ công tác giám định)

- 15 khối hình tròn, chân hình trụ nối với dây dẫn màu xanh đều là pháo hoa nổ có khối lượng 565,52gam( Đã trừ đi 05 khối hình tròn có khối lượng 184,74gam phục vụ công tác giám định)

- Sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, model TA-1174, code: 23KJG74BH00, IMEI 1: 35786101055475, IMEI 2: 357683101055483, bên trong lắp sim sổ 0396054xxx, không kiểm tra chất lượng máy, đã qua sử dụng;

- Sung công số tiền 200.000 đồng.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp

- Về tội danh:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; lời khai bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 03/8/2022, tại khu vực thôn C1, N, G, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn D ( tên gọi khác Quách Văn D) đang có hành vi vận chuyển hàng cấm là pháo hoa nổ có tổng khối lượng 8,96226 kg thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Vận chuyển hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm l khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ tư lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được Bộ luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo vận chuyển hàng cấm là pháo hoa nổ thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh, nghiêm cấm việc sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ sử dụng pháo nổ thì hành vi phạm tội của bị cáo xét về tính chất, mức độ, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Do bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích cụ thể:

- Tại bản án số 43/HSST ngày 12/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Th2, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2019.

- Tại bản án số 19/HSST ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/10/2021.

Nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm l khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự, nên HĐXX thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc của khung hình phạt là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cho tịch thu tiêu hủy số tang vật thu giữ của bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật gồm:

- 04 khối hình hộp, kích thước mỗi hộp (16x16x10)cm, vỏ hộp có chữ nước ngoài, mỗi hộp có 49 ống trụ hình tròn là pháo hoa nổ có tổng khối lượng 6,598kg ( Đã trừ đi 01 khối hình hộp có khối lượng 1,614kg phục vụ công tác giám định)

- 15 khối hình tròn, chân hình trụ nối với dây dẫn màu xanh đều là pháo hoa nổ có khối lượng 565,52gam( Đã trừ đi 05 khối hình tròn có khối lượng 184,74gam phục vụ công tác giám định)

- Sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, model TA-1174, code: 23KJG74BH00, IMEI 1: 35786101055475, IMEI 2: 357683101055483, bên trong lắp sim sổ 0396054xxx, không kiểm tra chất lượng máy, đã qua sử dụng;

- Sung công số tiền 200.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về mức hình phạt, về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS, về hình phạt bổ sung và về xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng bán pháo hoa nổ cho H và đối tượng tên H thuê D vận chuyển pháo hoa nổ do không xác định được nhân thân nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Bá T là người được H thuê xe, T không biết việc H thuê xe để chở DNvận chuyển pháo hoa nổ nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, model TA-1174, code: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, BKS: 37G1-174.66, số khung: RLHJA3925MY003989, số máy: JA39E2117749 thu giữ của Nguyễn Bá T, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Lô Văn C, sinh: 1974, HKTT: thôn B1, xã C4, huyện Q, Nghệ An. Ngày 01/8/2022, anh C cho T mượn để đi làm xe ôm. Anh T, anh C không biết việc chở D đi để vận chuyển hàng cấm là pháo hoa nổ. Do vậy, ngày 28/9/2022, Cơ quan CSĐT- Công an huyện G đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy cho anh Lô Văn C là có căn cứ.

Đối với số điện thoại 0382271xxx, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là chị Trần Thị Ph, sinh: 1999 trú tại A, T, Th3, Đồng Tháp, có số chứng minh 341427xxx do Công an tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 24/02/2017. Quá trình xác minh: không có công dân Trần Thị Ph, sinh: 1999, có lý lịch nêu trên. Tuy nhiên Qua rà soát tại xã T, Th3, Đồng Tháp thể hiện có công dân Trần Thị Ph, sinh: 09/9/1999, HKTT: Â, xã T1, huyện Th3, Đồng Tháp, có số chứng minh nhân dân 341897xxx do Công an tỉnh Đồng Tháp cấp (chưa rõ ngày cấp). Hiện nay Ph không có mặt tại địa phương, không lấy được lời khai. Do vậy không có căn cứ xử lý là có căn cứ.

Đối với số điện thoại 0396054xxx, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là bà Trương Thị D, sinh: 1946, địa chỉ: Đ1, T1, S, Bắc Giang khai không liên quan đến số thuê bao 0396054xxx.Ngoài lời khai của bà D không có tài liệu nào khác nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề giải quyết là có căn cứ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm l khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn D (tên gọi khác Quách Văn D) 36(Ba mươi sáu) tháng tù về tội "Vận chuyển hàng cấm". Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Không

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Cho tịch thu tiêu hủy số tang vật thu giữ của bị cáo gồm:

- 04 khối hình hộp, kích thước mỗi hộp (16x16x10)cm, vỏ hộp có chữ nước ngoài, mỗi hộp có 49 ống trụ hình tròn là pháo hoa nổ có tổng khối lượng 6,598kg ( Đã trừ đi 01 khối hình hộp có khối lượng 1,614kg phục vụ công tác giám định)

- 15 khối hình tròn, chân hình trụ nối với dây dẫn màu xanh đều là pháo hoa nổ có khối lượng 565,52gam( Đã trừ đi 05 khối hình tròn có khối lượng 184,74gam phục vụ công tác giám định)

- Sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, model TA-1174, code: 23KJG74BH00, IMEI 1: 35786101055475, IMEI 2: 357683101055483, bên trong lắp sim sổ 0396054xxx, không kiểm tra chất lượng máy, đã qua sử dụng;

- Sung công số tiền 200.000 đồng. (Tang vật hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 10 năm 2022 và Biên lai thu tiền số 55182 ngày

25/10/2022)

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo D phải chịu 200.000đ án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày T án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trực tiếp về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ