vanban.org

Bản án 190/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường Sang - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2022/HS-PT
Ngày: 22-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng

Các Thẩm phán:

1. Ông Vũ Văn Lệ

2. Ông Phan Thanh Nguyễn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:

122/2022/HSPT ngày 28 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Trường S

do có kháng cáo của bị cáo S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-

ST ngày 19-01-2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ

Chí Minh.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Trường S; Giới tính: Nam; Sinh năm 1972, tại Sài Gòn; Nơi đăng

ký hộ khẩu thường trú: 143/34 đường Liên khu 5-6, Khu phố 10, Phường B1,

Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc

tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề

nghiệp: Xây dựng; Con ông S1 và con bà Bùi Thị S2; Hoàn cảnh gia đình: bị

cáo có vợ (đã ly hôn) và có 01 người con (sinh năm 1997); Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 18/6/2009, bị UBND huyện Bình Chánh ra Quyết định xử

phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai theo Quyết

định số 292/QĐ-XPHC, S đã nhận quyết định nhưng chưa đóng phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày

31/12/2020 (có mặt tại phiên toà).

- Người bào chữa:

Luật sư Đ, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, làm việc tại Văn

phòng Luật sư V bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trường S (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường S thường nhận chuyển nhượng bằng giấy tay các thửa đất

nông nghiệp, trồng cây lâu năm của người khác rồi tự phân lô thành nhiều thửa nhỏ và bán lại bằng giấy tay cho người khác để kiếm lời. Tháng 10/2007, Nguyễn Trường S nhận chuyển nhượng thửa đất diện tích 6.630m2 đất trồng lúa của bà U1 với giá 370.000 đồng/m2 và diện tích 2000m2 đất trồng cây lâu năm của bà U2 với giá 1.300.000 đồng/m2, các thửa đất tọa lạc tại ấp 3, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Nguyễn Trường S phân lô các thửa đất này thành nhiều thửa nhỏ rồi bán lại cho người khác bằng giấy tay để hưởng lợi. Ngày 18/6/2009, Nguyễn Trường S bị Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Quyết định số 292/QĐ-XPHC) với 02 hành vi: Tự chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không N2 đúng thủ tục theo pháp luật đất đai, mức phạt tiền 350.000 đồng và sử dụng đất không đúng mục đích (sử dụng đất LM, CLN và LNQ phân nền để xây dựng nhà) tọa lạc tại ấp 3, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh,Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 và Điều 13 Nghị định 182/2004/NĐ-CP với tổng số tiền phạt là 6.350.000 đồng. Nguyễn Trường S đã nhận quyết định xử phạt hành chính nhưng chưa thi hành nộp phạt theo quyết định này.

Ngày 25/4/2010, Nguyễn Trường S tiếp tục nhận chuyển nhượng bằng

giấy tay của ông Trần Anh Q1 diện tích đất 1000m2 thuộc thửa số 625, tờ bản đồ số 29 (BĐĐC/2006) xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639693) với giá 1.900.000.000 đồng. Nguyễn Trường S nhờ bạn là Võ Văn D đứng tên ký giấy tay mua bán với ông Trần Anh Q1, còn việc thỏa thuận chuyển nhượng và trả tiền cho ông Q1 là do Ngyễn Trường S thực hiện. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất này xong, Nguyễn Trường S đã tự phân thửa đất trên ra thành 22 lô với diện tích nhỏ nhất là 32m2 và diện tích lớn nhất là 80m2.

Khoảng tháng 8/2010, Nguyễn Trường S chuyển nhượng bằng giấy tay

cho bà Nguyễn Thị R 13 lô đất trên với tổng số tiền 1.806.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Trường S tiếp tục chuyển nhượng bằng giấy tay 02 lô đất cho ông Trần Thanh S5 với giá tiền 145.000.000 đồng, còn lại 07 lô đất S bán bằng giấy tay cho nhiều người khác nhưng không rõ lai lịch.

Ngày 15/7/2011, Cơ quan Công an xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí

Minh nhận được đơn tố cáo của bà N1 về việc tố cáo ông N2 có hành vi chiếm đoạt tài sản của bà N1 là thửa đất 1000m2 tại thửa đất số 625, tờ bản đồ số 29 (BĐĐC/2006), xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639693 nêu trên. Công an xã L tiếp nhận sự

việc, lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện

Bình Chánh điều tra xử lý.

Căn cứ kết quả điều tra đã xác định: diện tích đất 1000m2 thửa đất số 625,

tờ bản đồ số 29 (BĐĐC/2006), xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc

quyền sở hữu của ông Trần Phước N2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

số AM 639693, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: H 02844/7013925 ngày

09/4/2008. Ngày 26/3/2010, ông Trần Phước N2 chuyển nhượng bằng giấy tay

thửa đất này cho ông Trần Anh Q1 với giá 1.500.000.000 đồng. Đến ngày

25/4/2010, Q1 chuyển nhượng mua bán bằng viết giấy tay cho Nguyễn Trường

S. Sau đó, Nguyễn Trường S tự mình phân lô bán nền thì bị Cơ quan Công an

làm việc như trên.

Bản kết luận giám định số 455/KLGGĐ-TT ngày 24/5/2012 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Chữ ký, chữ viết họ

tên “Nguyễn Trường S” cần giám định trên tài liệu ký hiệu A với chữ ký, chữ

viết họ tên Nguyễn Trường S dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M1,

M2, M3 là chữ ký do cùng một người ký và viết ra”.

Ngày 12 tháng 6 năm 2012, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình

Chánh ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với

Nguyễn Trường S về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” quy định tại

khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Do S

bỏ trốn nên ngày 12/8/2012, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với S,

đến ngày 31/12/2020 thì S bị bắt .

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 19/01/2022 của Tòa

án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 173; các điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ

luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi

phạm các quy định về sử dụng đất đai”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được

tính kể từ ngày 31/12/2020.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trường S 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) nộp

vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo

theo luật định.

Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, ngày 25/01/2022 bị cáo Nguyễn Trường S

có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Trường S khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản án

sơ thẩm đã thể hiện, đồng thời bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là xin giảm

nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan

điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Trường S về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo, nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo S tác động gia đình nộp số tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm, điều này thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo, nên cũng xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và hiện nay bị cáo cũng đã bị tạm giam một thời gian dài là 13 tháng 22 ngày. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 và xử phạt bị cáo bằng thời gian đã tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

- Luật sư Nguyễn Thanh Đạm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trường S thống

nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời Luật sư cho rằng bị cáo S phạm tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng đây là lần đầu phạm tội và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo; thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có trình độ học vấn thấp, cha bị cáo đã bị sốc và chết trong thời gian bị cáo bị tạm giam, mẹ bị cáo hiện nay lại bị ung thư thời kỳ cuối không biết sống được bao lâu; bản thân bị cáo là lao động chính để chu cấp cho mẹ và con nhỏ; trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền phạt bổ sung 20.000.000 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm, điều này thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Do vậy kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án bằng với thời hạn đã tạm giam bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ

án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào năm 2009 Nguyễn Trường S đã có hành vi nhận chuyển nhượng

các thửa đất nông nghiệp, trồng cây lâu năm của người khác bằng giấy tay rồi tự phân thành nhiều thửa nhỏ và bán lại bằng giấy tay cho người khác để kiếm lời nên ngày 18/6/2009, S bị Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Quyết định số 292/QĐ-XPHC) với 02 hành vi: Tự chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không N2 đúng thủ tục theo pháp luật đất đai, mức phạt tiền 350.000 đồng và sử dụng đất không đúng mục đích (sử dụng đất LM, CLN và LNQ phân nền để xây dựng nhà) tọa lạc tại ấp 3, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh,Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 và Điều 13 Nghị định 182/2004/NĐ-CP với tổng số tiền phạt là 6.350.000 đồng. Nguyễn Trường S đã nhận quyết định xử phạt hành chính nhưng chưa thi hành nộp phạt theo quyết định này.

Nguyễn Trường S đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

và chưa đóng tiền phạt, nhưng đến ngày 25/4/2010, S tiếp tục nhận chuyển

nhượng bằng giấy tay của ông Trần Anh Q1 diện tích đất 1000m2 thuộc thửa số

625, tờ bản đồ số 29 (BĐĐC/2006) xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh (theo

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639693) với giá 1.900.000.000 đồng

và S nhờ bạn là ông Võ Văn D đứng tên ký giấy tay mua bán với ông Trần

Anh Q1, còn việc thỏa thuận chuyển nhượng và trả tiền cho ông Q1 là do

Ngyễn Trường S thực hiện. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất này xong,

Nguyễn Trường S đã tự phân thửa đất trên ra thành 22 lô với diện tích nhỏ

nhất là 32m2 và diện tích lớn nhất là 80m2. Sau đó, đến khoảng tháng 8/2010,

Nguyễn Trường S chuyển nhượng bằng giấy tay cho bà Nguyễn Thị R 13 lô

đất trên với tổng số tiền 1.806.000.000 đồng, 02 lô đất cho ông Trần Thanh

S5 với giá tiền 145.000.000 đồng, còn lại 07 lô đất S bán bằng giấy tay cho

nhiều người khác nhưng không rõ lai lịch.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Trường

S về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” theo khoản 1 Điều 173 Bộ

luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng

người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ngày 19/01/2022, Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 25/01/2022 bị cáo

Nguyễn Trường S làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy đơn

kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên hợp lệ để xét xử theo trình tự

phúc thẩm.

Xét kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Trường S nhận chuyển nhượng bằng giấy tay các thửa đất

nông nghiệp, trồng cây lâu năm của người khác rồi bị cáo tự phân lô thành nhiều

thửa nhỏ và chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thu lợi mà không lập đúng thủ

tục quy định theo pháp luật đất đai. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội,

xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, phá vỡ

quy hoạch sử dụng đất của Nhà nước, làm thay đổi mục đích sử dụng đất, gây

ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nên cần có mức án nghiêm

đối với bị cáo. Tuy vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi

phạm tội, tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Trường S có thái độ thành khẩn khai báo,

ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

Hình sự năm 2015 và tình tiết này thì Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị

cáo và tuyên phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bị cáo nộp

trước số tiền xử phạt bổ sung 20.000.000 đồng theo quyết định của bản án hình

sự sơ thẩm, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51

Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng cũng cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình

tiết này là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra cũng cần xem xét hoàn cảnh của bị cáo hiện nay có mẹ bị bệnh nặng, cha bị cáo mất trong thời gian bị cáo bị tạm giam và bản thân bị cáo đã bị tạm giam một thời gian tương đối dài (13 tháng 22 ngày).

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo S có

nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo S và giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo. Điều này cũng có phần phù hợp với lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm.

Ngày 21/4/2022, mẹ bị cáo là bà S2 đã nộp trước số tiền xử phạt bổ

sung là 20.000.000 đồng theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm. Để thuận lợi cho việc thi hành án thì cần cấn trừ số tiền 20.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Trường S bị xử phạt bổ sung vào số tiền 20.000.000 đồng mà người nhà bị cáo S là bà S2 đã nộp theo Biên lai thu tiền số: AA/2021/0002021 ngày 21/4/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

N2 luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận một phần lời đề nghị của

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357

của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi,

bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc

hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường S và sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Nguyễn Trường S 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Vi

phạm các quy định về sử dụng đất đai”, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2020.

Xử phạt bổ sung: Nguyễn Trường S phải nộp 20.000.000 đồng (hai mươi

triệu) để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng cấn trừ số tiền này vào số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số: AA/2021/0002021 ngày 21/4/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hành ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng

nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ