vanban.org

Bản án 190/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 10/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Thành C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Thành C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2021. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thành C phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Thành C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2021/HSST
Ngày: 10-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Giang

Bà Trần Thị Hồng Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số 215/2021/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2021/QĐXXST-HS ngày 27/10/2021 đối với bị cáo:

Lương Thành C, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1992 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Đội A, thôn B, xã Trực Hưng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn Ch (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963. Gia đình có 03 anh em; bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/6/2021.

Bị hại: Anh Nguyễn Gia H, sinh năm 2002. Địa chỉ: khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1982 (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 13/6/2021 Lương Thành C điều khiển xe mô tô biển số 59G1-269.47 chở Đỗ Điệp T2 đến quán không tên tại ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom để uống nước. Tại đây C rủ T2 đi trộm cắp tài sản kiếm tiền tiêu xài thì T2 đồng ý. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô biển số 59G1-269.47 chở C. Khi đi ngang qua dãy nhà trọ của anh Nguyễn Xuân H thuộc ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom thì thấy có một số xe mô tô đang dựng ngoài hành lang không người trông coi. T2 dừng xe đứng cảnh giới, C lén lút đi đến vị trí xe mô tô Honda Vision biển số 59Y1-731.93 màu trắng của anh Nguyễn Gia H rồi dùng 01 tua vít bake và đoản sắt hình chữ “L” để bẻ khóa. Khi vừa bẻ khóa xe xong, C chuẩn bị dắt xe ra khỏi dãy phòng trọ thì bị anh Nguyễn Xuân H phát hiện bắt quả tang. Thấy C bị bắt, T2 điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter biển số 59G1-269.47 bỏ chạy. Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an xã Sông Trầu đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom điều tra theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã tiến hành định giá tài sản, tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 18/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59Y1-731.93, số máy 141818, số khung 141680 trị giá 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng).

Ngày 18/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lương Thành C về tội “Trộm cắp tài sản” để điều tra. Quá trình điều tra C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59Y1-731.93, số máy 141818, số khung 141680;

- 01 khóa tròn hình chữ “L”;

- 01 điện thoại di động Viettel màu xanh gắn số sim 0865.069610;

- 01 USB màu đỏ - đen ghi lại hình ảnh Lương Thành C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Tại bản cáo trạng số 223/CT-VKS-TB ngày 27/9/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom để xét xử đối với bị cáo Lương Thành C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Lương Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lương Thành C từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: 01 (một) đoản khóa tròn hình chữ L cần tịch thu tiêu hủy.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tụng tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thành C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Vào khoảng 13 giờ ngày 13/6/2021 bị cáo Lương Thanh C đã có hành vi đến dãy phòng trọ thuộc ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xem ai sơ hở trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Khi thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59Y1-731.93 đang dựng trước dãy trọ không người trông coi, bị cáo đã dùng khóa tròn hình chữ L phá khóa xe, chuẩn bị dắt xe ra khỏi dãy phòng trọ thì bị người dân phát hiện bắt quả tang. Xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59Y1-731.93 có giá trị định giá là 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng).

Hành vi của bị cáo Lương Thành C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nhưng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt đủ nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gia để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội chưa đạt và chưa gây thiệt hại nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 57 Bộ luật hình sự khi lượng hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

01 (một) đoản khóa tròn hình chữ L cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màu xanh gắn sim số 0865.069.610 là tài sản của bị cáo C không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho bị cáo C là phù hợp.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59Y1-731.93 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Gia Huy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho anh H

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Gia H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với xe mô tô biển số 59G1-269.47 bị cáo C khai đã mượn của anh Lương Văn Đ. Sau khi C bị bắt, Đỗ Điệp T2 đã điều khiển chiếc xe này chạy thoát và mang đi cầm lấy tiền tiêu xài. Anh Đ yêu cầu được nhận lại chiếc xe này. Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã ra thông báo truy tìm xe mô tô biển số 59G1-269.47 nhưng chưa có kết quả nên tách ra, xử lý sau.

Đối với Đỗ Điệp T2 có vai trò đồng phạm, giúp sức cho bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội và chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 59G1-269.47. Tuy nhiên trong quá trình điều tra T2 đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã thông báo truy tìm T2 để làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s, khoản 1 Điều 51, Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Lương Thành C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Thành C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoản khóa tròn hình chữ “L” đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lương Thành C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ