- Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "ông H kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và chia tài sản chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ NPT-VKS-DS ngày 21/10/2021 của Viện trư ng Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 309 Bộ luật Tố t ng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 190/2021/DS-PT Ngày 14-12-2021 V/v tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và chia tài sản chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà:
Ông Nguyễn Thành Trung
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Chum
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đ i di n Vi n i m s t nh n d n t nh ình Dư ng tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi - i m sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai v án dân sự th l số 237/2021/TLPT-DS ngày 25/11/2021 về việc “tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và chia tài sản chung”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2021/DS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện DT tỉnh Bình Dương bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 246/2021/QĐPT-DS ngày 06/12/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H sinh năm 1951; địa chỉ: Số 44/6 đường L Thường iệt khu phố 3 thị trấn HM huyện HM Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Kh sinh năm 1951; địa chỉ: Số 103 đường Lê Hồng Phong khu phố 5 thị trấn DT huyện DT tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho bà Lê Đức H1 sinh năm 1957; địa chỉ: hu phố 5 thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Xuân N sinh năm 1979; địa chỉ: hu phố 5 thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn H V sinh năm 1986; địa chỉ: hu phố 5 thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Thanh S sinh năm 1987; địa chỉ: hu phố 5 thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
4. Bà Nguyễn Thị Thanh T sinh năm 1981; địa chỉ: hu phố 5 thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị Tuyết M sinh năm 1983; địa chỉ: hu phố 5 thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
6. Văn phòng Công chứng V HN; địa chỉ: hu phố 4B thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
7. Bà Trần Thị H2 sinh năm 1983; địa chỉ: hu phố 5 thị trấn DT, huyện DT tỉnh Bình Dương có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/2021/QĐ NPT-VKS-DS ngày 21/10/2021.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 4 năm 2020, đơn khởi kiện
sung ngày 0 th ng 0 năm 2020, qu trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông H và ngƣời đại diện hợp ph p của ông H ( ng Nhật) thống nhất trình bày:
Về ngu n g c và quá trình s dụng ph n đ t tranh ch p:
Năm 1973 đến 1974 ông H đi lính cho chính quyền Ngu sư đoàn 25 Ngu đóng quân trên Dầu Tiếng có gặp và quen bà Kh. Sau đó hai bên đồng lấy nhau. Hai bên có làm lễ cư i nhưng thời đi m ông H đang trốn lính phải về Hóc Môn nên chỉ có cha m ông H lên Dầu Tiếng làm lễ cư i v i gia đình bà Kh. Lễ cư i được t chức tại nhà ba của bà Kh là ông Lê Văn Thoan c ng trong năm 1973 đến 1974 ngày tháng nào thì ông H không nh r .
Sau lễ cư i cha m ông H dắt bà Kh về Hóc Môn sinh sống v i ông H tại nhà cha m ông H Hóc Môn. Sống Hóc Môn một thời gian thì ông H c ng bà Kh phải lên Dầu Tiếng vì chính quyền Ngu đàn áp gắt gao. Cuối năm 1974 ông H v i bà Kh lên Dầu Tiếng sinh sống tại khu vực làng 10 x Định Hiệp huyện Dầu Tiếng . Sau khi Dầu Tiếng giải phóng tháng 3/1975 ông H c ng v i bà Kh về khu vực làng 2 ấp 5 nay là khu phố 5 thị trấn Dầu Tiếng khai phá đất khoảng 01 ha đất và cất nhà tranh sinh sống. hoảng cuối năm 1975 ông H và bà Kh có đứa con đầu tiên tên Nguyễn Thị Hồng H1. Năm 1976 do hoàn cảnh khó khăn quá nên ông H và bà Kh phải về Hóc Môn đ kiếm đường làm ăn. Nhưng về Hóc Môn c ng không làm đủ ăn. Năm 1977 ông H c ng m con bà Kh tr lại Dầu Tiếng sinh sống c ng tại phần đất đ khai phá tại khu vực làng 2 nói trên. Tuy nhiên lúc này đất đ bị người khác lấn chiếm một phần do không có hàng rào kiên cố như bây giờ. Hai vợ chồng ông H chung sống v i nhau đến năm 1987 thì xảy ra bất đồng quan đi m không th tự giải quyết được nên t giữa năm 1987 ông H và bà Kh đ sống ly thân v i nhau; bà Kh tiếp t c sinh sống Dầu Tiếng còn ông H về Hóc Môn sống v i cha m ruột của ông H ông Trần Văn Thiện và bà Nguyễn Thị Xẩm – ông H mang h m .
T năm 1975 đến năm 1987 ông H là người trực tiếp khai phá canh tác trên đất. T năm 1987 đến nay thì do ông H về Hóc Môn sinh sống nên không trực tiếp canh tác trên đất nữa. hi trực tiếp canh tác trên đất ông H có trồng mít xoài i và các cây hoa màu ngắn ngày như dưa leo khoai lang. Tuy nhiên hiện nay các cây do ông H trồng c ng như nhà tranh đ không còn do bà Kh và các con đ chặt phá hết đ xây nhà.
T năm 1977 đến năm 1987 bà Kh làm công nhân cao su còn ông H nhà trồng dưa leo trồng khoai lang hoặc đi làm thuê cho người khác đ lấy tiền sinh sống. Ông H và bà Kh có tất cả 07 người con: Nguyễn Thị Hồng H1 sinh năm 1975 chết năm 20 tu i Nguyễn Thị Thanh Xuân sinh năm 1977 chết năm 1980 Nguyễn Thị Xuân N sinh năm 1979 Nguyễn Thị Thanh T tên g i khác là Tú sinh năm 1981 Nguyễn Thị Tuyết M sinh năm 1983 Nguyễn H V sinh năm 1985 Nguyễn Thanh S sinh năm 1987.
Sau khi ly thân v i bà Kh năm 1987 ông H về Hóc Môn sinh sống v i cha m . Ông H làm nghề vá xe đ sinh sống và nuôi cha m . hoảng năm 1990 ông H gặp và lấy bà L Thị Tím sinh năm 1959 rồi c ng nhau sinh sống tại Hóc Môn cho t i nay và có 01 người con tên Nguyễn Thành Lâm sinh năm 1990.
Sau khi ly thân trong năm 1987 cứ 01 tuần hoặc hơn ông H v n về Dầu Tiếng thăm các con vì nh các con. Sau đó do khó khăn về công ăn việc làm nên khoảng 1-2 tháng ông H m i về Dầu Tiếng 01 lần đám cư i đám h i ông H v n về Dầu Tiếng lo cho các con khi ông H có tiền c ng cho các con. T năm 1987 đến nay thì ông H không có canh tác hay đầu tư gì trên phần đất hiện nay mà bà Kh và các con đang sinh sống ông H chỉ nh là trư c năm 1987 ông H và bà Kh sinh sống trong căn nhà tranh do ông H và bà Kh cất trên đất.
Trư c năm 2012 ông H là chủ hộ gia đình và bà Kh c ng các con là thành viên tại Dầu Tiếng. Năm 2012 do công việc ông H đ tách hộ khẩu và nhập vào hộ của bà L Thị Tím tại Hóc Môn.
Về th a thu n ph n chia tài s n chung ngày 24 2 1 t i Văn ph ng Công ch ng V Hu nh Nguyên: Thời đi m đó do con ông H Nguyễn Thị Xuân N nói v i ông H là bị mắc nợ bên ngoài không trả được nên có yêu cầu ông H về k u quyền phần đất nêu trên cho bà Kh đ bà Kh vay tiền ngân hàng trả nợ cho chủ nợ. Số tiền nợ bao nhiêu thì ông H không r . Ông H và bà Kh c ng các con có ra Văn Phòng Công chứng V Hu nh Nguyên đ k Văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung ngày 24/7/2018. Tuy nhiên do chỉ lo cho con nên ông H không đ T văn bản trên nội dung như thế nào mà k văn bản. Bản thân ông H chỉ nghe là bà Kh c ng các con chỉ yêu cầu ông H k văn bản u quyền đ bà Kh vay tiền chứ không phải là Văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung nêu trên. Ông H ngh bà Kh và các con đ gạt ông H đ k văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung. Ông H có k và lăn tay trư c mặt công chứng viên V Hu nh Nguyên. Ông H đ c rất chậm và bị phân T nên không nắm hết nội dung văn bản chỉ vì lo cho con nên ông H m i k văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung. Giữa ông H v i bà Kh và các con thoả thuận miệng về việc khi bán đất s cho ông H một khoản đ ông H dư ng già nhưng sau khi k văn bản trên bà Kh và các con đ không thực hiện còn mắng chửi ông H khi ông H về thăm nhà. Ông H bức xúc nên m i kh i kiện ra Toà.
Tại phiên toà người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tiếp t c yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng số 02689 quy n số 01TP/CC-SCC/TSHGĐ ngày 24/7/2018 tại Văn phòng công chứng V HN là vô hiệu v i l do bị l a dối bà Kh không giữ đúng cam kết v i ông H khi k văn bản nêu trên r ng s cho ông H một khoản tiền khi bán đất tương ứng v i số tiền 400.000.000 đồng đ ông H có tiền chữa bệnh và dư ng già. hông những vậy khi ông H t Hóc Môn về thì bà Kh c ng các con còn không cho ông H vào nhà l n tiếng đu i ông H đi. Thực tế bà Kh đ bán đất nhưng không đưa tiền cho ông H; Ông H tiếp t c yêu cầu chia phần đất có t ng diện tích 5.149 3m2 gồm: Thửa 1114 diện tích 246,4m2 và thửa 1115 diện tích 4.902 9m2 thành 07 phần ông H yêu cầu được hư ng phần đất có diện tích 735,61m2. Đối v i tài sản trên đất nguyên đơn không tranh chấp.
Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất v i kết quả đo đạc theo mảnh trích l c địa chính có đo đạc chỉnh l tranh chấp số 685-2020 ngày 29/9/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện Dầu Tiếng đối v i phần đất tranh chấp có t ng diện tích 5.149 3m2 gồm: Thửa 1114 diện tích 246 4m2 và thửa 1115 diện tích 4.902 9m2 và kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 22/10/2020 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng. Đề nghị Toà án lấy kết quả đo đạc định giá trên đ giải quyết v án.
* Theo ản tự khai và qu trình tham gia tố tụng ị đơn bà Kh và đại diện ị đơn là bà H1 thống nhất trình bày:
Về ngu n g c và quá trình s dụng ph n đ t:
Bà Kh bắt đầu sống chung v i ông H t ngày 01/6/1974 có làm lễ cư i nhưng không đăng k kết hôn vì thời đi m này ông H đang đi trốn lính Ông H thời đi m đó là lính cho Ngu Sư đoàn 25 .
hi lấy nhau thì chỉ có cha m chồng lên làm đám cư i tại nhà của cha bà Kh tên Lê Văn Thoan vì ông H đang trốn lính. Cư i xong thì gia đình ông H có rư c dâu bà Kh về t chức tiệc và sống chung nhà v i cha m chồng Hóc Môn. Đến tháng 3/1975 bà Kh c ng ông H lên Dầu Tiếng V ng giải phóng thuộc làng 10 Định Hiệp cho đến ngày giải phóng Dầu Tiếng thì cha và em út của bà Kh bà Lê Đức H1 c ng về làng 10 v i bà Kh đ cạo mủ cao su. Giải phóng Dầu Tiếng được 10 ngày thì cha bà Kh về làng 2 khu phố 5 thị trấn Dầu Tiếng đ khai phá đất sinh sống. hi giải phóng Sài Gòn 30/4/1975 thì ông H bắt xe đò về Hóc Môn v i cha m . Còn bà Kh c ng em út bà H1 về làng 2 sinh sống cạo mủ c ng v i cha. Một thời gian sau ông H lên Dầu Tiếng thuyết ph c bà Kh về Hóc Môn sinh sống. Bà Kh đ b công nhân theo ông H về Hóc Môn sinh sống. Đến năm 1976 do dư i Hóc Môn khó khăn quá con còn nh không có ai ph ông H thường xuyên đánh đập bà Kh nên bà Kh về Dầu Tiếng sinh sống. Cha bà Kh cho bà Kh một phần đất là phần đất ông H đang tranh chấp đ m con bà Kh sinh sống. Cha và em còn xin cho bà Kh làm công nhân lại và xin nông trường Đoàn Văn Tiến cấp cho bà Kh ngôi nhà tranh tre đ tạm Nông trường cất cho bà Kh . 03 tháng sau thì ông H lên Dầu Tiếng xin v i bà Kh và được bà Kh đồng . Bà Kh đi làm công nhân cạo mủ còn ông H nhà trông con. Tuy nhiên, ông H không h n Dầu Tiếng đ lo cho gia đình mà hay đi đi về về giữa Hóc Môn và Dầu Tiếng. Năm 1984 em bà Kh có xin cho ông H vào công nhân chăm sóc của nông trường Đoàn Văn Tiến nhưng ông H không chấp hành theo sự phân công gây g v i người khác nên ông H tự b về không làm nữa. C ng trong năm đó bà Kh có mượn tiền của em bà Kh dựng cho ông H một cái chòi đ ông H sửa xe đạp nhưng ông H v n đi đi về về không tập trung làm ăn.
Bà Kh và ông H có tất cả 07 người con: Nguyễn Thị Hồng H1 sinh năm 1975 chết năm 1991 Nguyễn Thanh Xuân sinh năm 1977 chết năm 1980 Nguyễn Thị Xuân N sinh năm 1979 Nguyễn Thị Thanh T 1981 Nguyễn Thị Tuyết M sinh năm 1983 Nguyễn H V sinh năm 1986 Nguyễn Thanh S, sinh năm 1987.
Năm 1987 cháu ruột của ông H tên Lệ Thu có nói cho bà Kh biết việc ông H đ lấy vợ khác dư i Hóc Môn. Thời đi m này bà Kh m i đ S được 04 tháng. hi ông H về nhà thì bà Kh có ghen nên nói nặng v i ông H. Ông H không nói gì mà b đi. Sau đó ông H có về đòi bắt con tên V bà Kh không đồng nhưng em bà Kh nói cứ cho ông H bắt đi xem ông H có nuôi được không nên bà Kh đ đ ông H bắt V đi. Được vài ngày sau thì ông H mang cháu V về trả cho bà Kh rồi ông H đi luôn không về nữa. 03 năm sau thì ông H có lên thăm con 01 lần lúc này ông H còn không nhận ra cháu S là con của ông H rồi lại về Hóc Môn. Thực sự thì t năm 1987 ông H đ không còn chung v i m con bà Kh cho đến nay. Thỉnh thoảng ông H có lên thăm con rồi lại về trong ngày.
Các thửa đất 1114 1115 tờ bản đồ số 14 có nguồn gốc là do cha bà Kh tên Lê Văn Thoan sinh năm 1912 khai phá t năm 1975 sau khi giải phóng Dầu Tiếng. Năm 1976 cha bà Kh giao lại phần đất này cho bà Kh canh tác như đ trình bày trên. Cha bà Kh ch khác phần của bà Kh chỉ là một phần trong diện tích do cha bà Kh khai phá . Cha bà Kh đ mất năm 1986.
Bà Kh là người trực tiếp quản l khai thác phần đất trên t năm 1976 cho đến nay. Ông H chung sống v i m con bà Kh t năm 1976 đến năm 1987 thì b đi đến HM Thành phố Hồ Chí Minh chung sống v i người ph nữ khác tên Tím và có 01 con chung tên Lâm sinh năm 1988 . Ông H v n chung sống v i bà Tím và con tên Lâm t đó cho đến nay. Quá trình chung sống t năm 1976 đến năm 1987 thì ông H không hề tham gia canh tác gì trên phần đất tranh chấp. Sau này thì ông H đi biền biệt luôn không có mặt nhà nên c ng không tham gia vào quá trình canh tác thửa đất nêu trên. Bà Kh là người trực tiếp canh tác nuôi các con. Sau này các con l n thì có ph bà Kh canh tác cây ngắn ngày và sinh sống trên đất. Năm 1981 thì bà Kh trồng cây điều đến năm 1996 thì chặt cây điều trồng cây cao su đến năm 2009 thanh l và trồng cao su m i cho đến nay. Quá trình canh tác trên thửa đất việc trồng cây do bà Kh hoặc bà Kh thuê người làm còn chăm sóc cạo mủ thu hoạch bón phân là do bà Kh và các con thực hiện.
Các tài sản trên đất hiện nay là do bà Kh xây dựng đ cho các con có điều kiện sinh sống.
Năm 1997 bà Kh có làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đợt cấp đất đại trà . Ông Lê D nh trực tiếp đo đạc đất cho bà Kh. Cá nhân bà Kh trực tiếp đi đăng k và được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất ngày 18/5/1997.
Việc cấp đ i giấy chứng nhận bà Kh làm là theo chủ trương của Nhà nư c. Sau khi huyện Dầu Tiếng tái lập thì Nhà nư c có chủ trương thu hồi giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đ cấp lại theo đại trà. S hộ khẩu là do cán bộ đăng k yêu cầu cung cấp và bà Kh ghi đơn đăng k theo m u. Bà Kh c ng không đ lắm vì chủ trương của nhà nư c thì bà Kh chấp hành.
Do ông H v n còn là chồng của bà Kh và là cha của các con bà Kh nên khi đăng k hộ khẩu v n đ ông H đứng tên trong hộ. Bà Kh c ng muốn tách ông H ra kh i hộ khẩu nhưng vì ông H không có mặt đ k đồng tách khẩu không biết tách ông H đi đâu nên ông H v n có tên trong hộ khẩu gia đình. Đến năm 2008 ông H đ làm thủ t c cắt hộ khẩu về Hóc Môn nhập chung hộ khẩu v i bà Tím Hóc Môn. Theo bà Kh biết thì trư c đó ông H có hộ khẩu dạng T3 Hóc Môn nên không cần tách khẩu. Sau này do liên quan đến tài sản nhà và đất nên ông H m i về yêu cầu cắt khẩu về Hóc Môn. Cán bộ tư pháp thời đó là ông Tô Xuân Lợi có yêu cầu ông H làm đơn xác định không tranh chấp về tài sản đơn này do ông H nhờ em bà Kh là bà H1 viết b sung hồ sơ thì m i được tách khẩu.
Về th a thu n ph n chia tài s n chung ngày 24 2 1 t i Văn ph ng Công ch ng V Hu nh Nguyên:
Do có nhu cầu vay vốn đ chăn nuôi và đáo hạn khoản vay thì bà Kh có vay của Ngân hàng nhiều lần. Trư c đây việc vay vốn của Ngân hàng chỉ cần bà Kh và con trai l n cháu V k là được vay vốn. Sau này khi văn phòng công chứng về huyện thì nếu khoản vay 100.000.000 đồng tr lên phải ra công chứng. Văn phòng công chứng lại yêu cầu các thành viên trong hộ k hết trong đó có ông H h m i công chứng hợp đồng vay. Bà Kh có yêu cầu ông H về k tên đ bà Kh vay vốn thì ông H không đồng . Năm 2018 ông H nói là ông không có liên quan gì đến khoản nợ của gia đình sợ chịu trách nhiệm v i khoản nợ của bà Kh nên các con có thoả thuận v i ông H ra làm văn bản thoả thuận về tài sản chung tại Văn phòng công chứng đ ông H kh i phải k hồ sơ vay lần nữa. Ngày 24/7/2018 trên cơ s sự tự nguyện bà Kh c ng ông H và các con c ng ra Văn phòng Công chứng V Hu nh Nguyên k văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung có người làm chứng là bà Đặng Thị Cuộc. Ông H và các con tự nguyện giao lại toàn bộ phần đất n m trong giấy chứng nhận quyền sử d ng đất do bà Kh đứng tên t a lạc tại khu phố 5 thị trấn Dầu Tiếng huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương cho bà Kh toàn quyền quản l sử d ng. Đây là sự tự nguyện của các thành viên tham gia k kết không bị ai ép buộc.
Giữa bà Kh, ông H và các con không hề có th a thuận v i nhau là sau khi k văn bản th a thuận chia tài sản chung thì bà Kh và các con s giao cho ông H một số tiền đ dư ng già. Bà Kh và ông H còn ch ng th nói chuyện đàng hoàng v i nhau. Do ông H tự nguyện k kết văn bản trên vì sợ trách nhiệm chứ không đặt ra điều kiện gì cả.
Văn bản th a thuận phân chia tài sản chung ngày 24/7/2018 chỉ thoả thuận về tài sản là phần đất 5012 m2 thuộc thửa đất số 117 118 119 nay là thửa 1114, 1115) tờ bản đố số 14 thuộc khu phố 5 thị trấn DT huyện DT tỉnh Bình Dương chứ không thoả thuận về tài sản trên đất vì tài sản trên đất là tài sản do bà Kh làm nên không liên quan đến ông H. Tại bu i công chứng bà Kh đ được công chứng viên thông qua và giải thích toàn bộ nội dung văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung nêu trên trư c khi k .
Sau khi có văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung nêu trên thì bà Kh và các con v n sử d ng đất bình thường. Cuối năm 2019 do cần tiền nên bà Kh có chuy n nhượng cho bà Trần Thị H ng sinh năm 1983 khu phố 5 thị trấn Dầu Tiếng huyện Dầu Tiếng 5m ngang dài 50m giá chuy n nhượng thực tế là 670.000.000 đồng nhưng ghi trong hợp đồng là 100.000.000 đồng. Việc chuy n nhượng đ hoàn tất và bà H ng đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất.
Đối v i yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng vì văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung ngày 24/7/2018 là hợp pháp và phần đất có diện tích đo đạc thực tế 5.149 3m2 là tài sản của bà Kh do cha của bà Kh cho nên bà Kh không đồng v i yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và chia tài sản chung của ông H. Đối v i phần đất thửa 1114 diện tích 246 4m2 bà Kh đ chuy n nhượng cho bà H ng và bà H ng đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất hợp pháp nên thuộc quyền quản l của bà H ng bà Kh không có kiến.
Bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn thống nhất v i kết quả đo đạc theo mảnh trích l c địa chính có đo đạc chỉnh l tranh chấp số 685-2020 ngày 29/9/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện Dầu Tiếng đối v i phần đất tranh chấp có t ng diện tích 5.149 3m2 gồm: Thửa 1114 diện tích 246,4m2 và thửa 1115 diện tích 4.902 9m2 và kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 22/10/2020 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng. Đề nghị Toà án lấy kết quả đo đạc định giá trên đ giải quyết v án.
* Theo đơn đề nghị t v ng m t, ngƣời c quyền lợi, ngh a vụ liên quan Văn ph ng C ng ch ng V Hu nh Nguyên trình bày:
Văn phòng Công chứng V Hu nh Nguyên có chứng nhận văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình bà Lê Thị Kh sinh năm 1951 địa chỉ: hu phố 5 thị trấn Dầu Tiếng huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương Hợp đồng có số công chứng 02689 quy n số 01TP/CC-SCC/HĐGD .
Về trình tự thủ t c chứng nhận văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung nêu trên Văn phòng Công chứng V Hu nh Nguyên đ áp d ng đúng các quy định của pháp luật tại thời đi m công chứng và Văn phòng Công chứng V Hu nh Nguyên không có kiến nào khác.
* Theo c c iên ản lấy lời khai, đơn yêu c u giải quy t, t v ng m t và tại phiên toà, ngƣời c quyền lợi, ngh a vụ liên quan à N trình bày:
Thống nhất v i kiến của bị đơn không có kiến hay yêu cầu gì khác. Đối v i các tài sản trên đất thống nhất do bị đơn xây dựng và giao toàn quyền quyết định đối v i các tài sản này cho bị đơn.
Thống nhất v i kết quả đo đạc theo mảnh trích l c địa chính có đo đạc chỉnh l tranh chấp số 685-2020 ngày 29/9/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện Dầu Tiếng đối v i phần đất tranh chấp có t ng diện tích 5.149,3m2 gồm: Thửa 1114 diện tích 246 4m2 và thửa 1115 diện tích 4.902,9m2 và kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng. Đề nghị Tòa án lấy kết quả đo đạc định giá trên đ giải quyết v án.
* Theo c c iên ản lấy lời khai, đơn yêu c u giải quy t, t v ng m t, ngƣời c quyền lợi, ngh a vụ liên quan à N, à T, à M, ông V, ông S trình bày:
Thống nhất v i kiến của bị đơn không có kiến hay yêu cầu gì khác. Đối v i các tài sản trên đất thống nhất do bị đơn xây dựng và giao toàn quyền quyết định đối v i các tài sản này cho bị đơn.
Thống nhất v i kết quả đo đạc theo mảnh trích l c địa chính có đo đạc chỉnh l tranh chấp số 685-2020 ngày 29/9/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện Dầu Tiếng đối v i phần đất tranh chấp có t ng diện tích 5.149,3m2 gồm: Thửa 1114 diện tích 246 4m2 và thửa 1115 diện tích 4.902,9m2 và kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 22/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng. Đề nghị Tòa án lấy kết quả đo đạc định giá trên đ giải quyết v án.
* Theo ản tự khai và đơn yêu c u giải quy t, t v ng m t, ngƣời c quyền lợi, ngh a vụ liên quan à H2 trình bày:
Tháng 4/2020 bà H ng có mua của bà Lê Thị Kh một phần đất có diện tích đo đạc là 246 4m2 toạ lạc tại khu phố 5 thị trấn Dầu Tiếng huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương v i giá 670.000.000 đồng. Bà H ng mua đất của bà Kh là hợp lệ vì bà Kh đ được u quyền toàn bộ đối v i phần đất nên thủ t c chuy n nhượng chỉ cần bà Kh k không cần ông Nguyễn Văn H phải k tên vào bất cứ giấy tờ gì. Sau khi thanh toán hết tiền chuy n nhượng thì bà H ng đ tiến hành làm thủ t c tách giấy chứng nhận quyền sử d ng đất 246 4m2 nói trên t phần đất của bà Kh thành thửa 1114 theo giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số vào s CS08393 do S Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 26/6/2020 cho bà Trần Thị H ng.
Do đó bà H2 không đồng v i yêu cầu tranh chấp của ông H đối v i phần đất bà Kh đ chuy n nhượng cho bà H ng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2021/DS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương đ quyết định:
1. Không ch p nh n yêu c u kh i kiện của ông Nguy n Văn H đ i v i à Lê Thị Kh về việc yêu c u văn n công ch ng vô hiệu, tranh ch p chia tài s n chung, cụ thể:
1.1. Không ch p nh n yêu c u kh i kiện của ông Nguy n Văn H về việc yêu c u tuyên
văn n công ch ng s 26 9, quyển s 1TP CC-SCC TSHGĐ ngày 24 2 1 t i Văn ph ng công ch ng V HN vô hiệu.
1.2. Không ch p nh n yêu c u kh i kiện của ông Nguy n Văn H về việc yêu c u chia ph n đ t có t ng diện t ch .149,3m2 g m: Th a 1114 diện t ch 246,4m2 và th a 111 diện t ch 4.9 2,9m2) tọa l c t i khu ph , thị tr n D u Ti ng, huyện D u Ti ng, t nh Bình Dương.
2. Ki n nghị Ủy an nh n d n thị tr n Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành ph H Ch Minh th c hiện việc yêu c u hu việc k t hôn trái pháp lu t gi a ông Nguy n Văn H và à L Thị T m theo gi y ch ng nh n k t hôn s 136 KH ngày 13 1 2 6 t i Ủy an nh n d n thị tr n Hóc Môn.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm chịu chi phí đo đạc thẩm định và định giá tài sản án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/10/2021 Viện trư ng Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐKNPT-VKS-DS; nội dung cho r ng: Các đương sự không yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử kiến nghị UBND thị trấn HM huyện HM Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Nguyễn Văn H v i bà L Thị Tím theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/10/2006 tại UBND thị trấn HM là không đúng pháp luật. Đề nghị xét xử lại phúc thẩm không kiến nghị phần nêu trên. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án được thẩm tra tại phiên tòa kiến của i m sát viên:
NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt và đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt h theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân sự.
[2] Xét quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trư ng Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương thấy r ng: Theo đơn kh i kiện ngày 23/4/2020 và ngày 30/10/2020 nguyên đơn ông Nguyễn Văn H kh i kiện bị đơn bà Lê Thị Kh thì nội dung đơn kh i kiện nguyên đơn không có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và bị đơn c ng không có yều phản tố. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử tại phần quyết định của bản án có nội dung: “Ki n nghị Ủy an nh n d n thị tr n Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành ph H Ch Minh th c hiện việc yêu c u hu việc k t hôn trái pháp lu t gi a ông Nguy n Văn H và à L Thị T m theo Gi y ch ng nh n k t hôn s 136 KH ngày 13 1 2 6 t i U an nh n d n thị tr n Hóc Môn” là vượt quá phạm vi đơn kh i kiện không ph hợp v i Điều 5 Bộ luật Tố t ng dân sự về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Cần sửa bản án sơ thẩm. Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trư ng Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương và kiến của i m sát viên là ph hợp.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật k t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị; Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét theo quy định tại các Điều: 282 293 Bộ luật Tố t ng dân sự
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố t ng dân sự;
Tuyên
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ NPT-VKS-DS ngày 21/10/2021 của Viện trư ng Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Sửa Bản án số 42/2021/DS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương như sau:
- hông chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H đối v i bị đơn bà Lê Thị Kh về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng số 02689 quyền số 01TP/CC-SCC/TSHGĐ ngày 24/7/2018 của Văn phòng Công chứng V HN vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ông Nguyễn Văn H đối v i bà Lê Thị Kh về việc tranh chấp tài sản chung là diện tích đất 5.149,3m2 gồm: Thửa 1.114 diện tích 246 4m2 thửa 1.115 diện tích 4.902 9m2; tờ bản đồ số 14 t a lạc tại khu phố 5 thị trấn DT huyện DT tỉnh Bình Dương.
- Chi phí thẩm định đo đạc định giá tài sản: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 4.102.961 đồng được tr vào số tiền ông H đ nộp.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn H theo quy định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án./.
N i nhận:
| - V SND tỉnh Bình Dương; - TAND huyện DT; - Chi c c THADS huyện DT; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ T HCTP. | TM. HỘI Đ NG X T X PH C THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |