vanban.org

Bản án 190/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy O.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy O được ly hôn với anh Phan Thiện P. Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 26/7/2018 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị O yêu cầu ly hôn với anh P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy O.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 17-6-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Phúc

2. Ông Trần Đăng Khoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy O, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ X, ấp H, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15/6/2020)

2. Bị đơn: Phan Thiện Phúc, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ Y, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy O trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy O và anh Phan Thiện P tự tìm hiểu và tổ chức đám cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được khoảng hai năm thì phát sinh nhiều bất đồng trong cuộc sống dẫn đến gia đình luôn bất hòa, không hạnh phúc. Từ tháng 8/2019 anh chị đã ly thân cho đến nay. Chị O nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh P không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh P.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Nguyễn Gia T, sinh ngày 11/8/2017. Sau khi ly hôn, chị O yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 11/02/2020, anh Phan Thiện P trình bày: Anh P và chị O tự tìm hiểu và kết hôn vào năm 2015, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị có nhiều mâu thuẫn không thể khắc phục được nên anh đồng ý ly hôn với chị O.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Nguyễn Gia T, sinh ngày 11/8/2017. Sau khi ly hôn, anh đồng ý để chị O được tiếp tục nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn vắng mặt và không gửi ý kiến trình bày bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Thúy O và anh Phan Thiện P là tranh chấp về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Thẩm quyền giải quyết: Anh Phan Thiện P hiện đang có đăng ký hộ khẩu tại ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: Ngày 15/6/2020, nguyên đơn có gửi đơn xin xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận; Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy O và anh Phan Thiện P có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 26/7/2018. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện để chị O và anh P được đoàn tụ, nhưng anh chị đều đồng ý ly hôn. Anh chị đều thống nhất từ khi ly thân vào tháng 8/2019 đến nay, anh chị không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy O.

2.2 Về con chung: Anh chị đều thống nhất có 01 con chung tên Phan Nguyễn Gia T, sinh ngày 11/8/2017. Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu Tnh chưa đủ 36 tháng tuổi, từ khi anh chị ly thân cháu T được chị O nuôi dưỡng, chăm sóc, chị O và anh P đều thống nhất giao cháu T cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ vào quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu T cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị O không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc nuôi con có thể bị thay đổi dựa trên cơ sở lợi ích của con theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Chị O và anh P đều thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị O là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy O.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy O được ly hôn với anh Phan Thiện P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 26/7/2018 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy O được quyền nuôi con chung tên Phan Nguyễn Gia T, sinh ngày 11/8/2017. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị O chưa yêu cầu.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổi dựa trên cơ sở lợi ích của con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy O phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006795 ngày 17/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. uyền háng cáo: Chị Nguyễn Thị Thúy O và anh Phan Thiện P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bàn án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ