vanban.org

Bản án 190/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 25/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lâm Viết T (tức Ng) phạm Tội lừa đảo chiếm đọat tài sản.

Xử phạt: Lâm Viết T (tức Ng) 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lâm Viết T (tức Ng) phạm Tội lừa đảo chiếm đọat tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2019/HS-ST
Ngày 24 - 12 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Dung

Bà: Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiện Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa:

Bà: Nguyễn Thị Kim Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 190/TLST-HS, ngày 03 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Lâm Viết T (tên gọi khác: Ngọc), sinh năm 1988 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn 1, xã Đình Xuyên, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Viết Trọng, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Dậu, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị Hồng Thắm, sinh năm 1996; Con: có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không có; Nhân thân: 01 tiền sự tháng 02/2007, đi cai nghiện bắt buộc tại trung T số 06 Sóc Sơn, Hà Nội. Tiền án: Năm 2006, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 16 tháng về Tội trộm cắp tài sản. Năm 2007, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 20 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 14/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 45 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/02/2009 (đều đã xóa án tích). Bị cáo khởi tố tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Nguyễn Khắc M, sinh năm 1993

Địa chỉ: thôn 8, xã N.H, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

(vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 18/7/2019, Nguyễn Huy H, Lâm Viết T và anh Nguyễn Khắc M đang ngồi chơi điện tử ở thị trấn Yên Viên, Hoàng bảo anh M và T về nhà nghỉ ở khu vực Cầu Đuống để tắm rồi ra chơi tiếp, anh M đồng ý chở Hoàng và T về nhà nghỉ. Tại nhà nghỉ khi cả ba đang ngồi chơi thì Hoàng bảo anh M cho T mượn xe máy để T đi ra Ngân hàng rút tiền. Do là bạn bè nên anh M tin tưởng giao xe máy cho T. Sau khi nhận được xe máy, T không đi ngân hàng rút tiền mà mang xe máy của anh M đặt cho ông Trần Văn Ch, sinh năm 1965 trú tại Du Ngoại, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội lấy 2.200.000 đồng. Sau khi có tiền, T chia cho Hoàng 600.000 đồng, số tiền còn lại là 1.600.000 đồng T sử dụng ăn tiêu cá nhân hết.

Quá trình điều tra, T đã chuộc lại xe máy trả cho anh M còn Nguyễn Huy H không có mặt tại địa phương.

Theo kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐG ngày 19/9/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Gia Lâm, kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 32425H9, màu nâu, số khung: 0374940, số máy: 0374940 có giá: 6.500.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Lâm Viết T đã thành khẩn khai nhận về hành vi của mình.

Tại bản cáo trạng số 196/CT-VKSGL, ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Lâm Viết T “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

Tại phiên toà: Bị cáo Lâm Viết T đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị hại là anh Nguyễn Khắc M vắng mặt và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Lâm Viết T trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 – Bộ Luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lâm Viết T phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 08 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: không

Về dân sự: đã giải quyết xong nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, Lâm Viết T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream của anh Nguyễn Khắc M. Để thực hiện ý định của mình, T đã mượn xe máy của anh M để đi ngân hàng rút tiền nhưng T không đến ngân hàng mà đem xe máy đi đặt cho ông Trần Văn Ch để lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Hành vi bị cáo mượn xem máy của anh M để đi ngân hàng rút tiền nhưng không đến ngân hàng mà đi đặt xe lấy tiền chi tiêu cá nhân là hành vi gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Dream có giá 6.500.000 đồng vào ngày 18/7/2019 đã cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 – Bộ luật hình sự.

Điều 174 quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

.......

Bản cáo trạng số 196/CT-VKSGL, ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố hành vi của bị cáo Lâm Viết T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện chuộc lại xe máy trả cho bị hại. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, lấy đó làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng nhân thân bị cáo 01 tiền sự và 03 tiền án tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng bản thân để trở thành người công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, HĐXX thấy cần xử phạt bị cáo mức án tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đề nghị áp dụng đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

.Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có thu nhập và tài sản tích lũy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã chuộc lại tài sản và trả cho anh Nguyễn Khắc M, anh M không còn yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

. Đối với Nguyễn Huy H: Cơ quan điều tra đã triệu tập Hoàng nhiều lần nhưng Hoàng vắng mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác chứng minh Hoàng đồng phạm với T nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

. Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo Lâm Viết T có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào các Điều: 326, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên bố: bị cáo Lâm Viết T (tức Ng) phạm Tội lừa đảo chiếm đọat tài sản.

Xử phạt: Lâm Viết T (tức Ng) 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lâm Viết T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo Lâm Viết T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Khắc M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ