- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp QSD đất"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thái Thị H.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 203 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án số: 190/2018/DS-PT Ngày: 20/8/2018 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự.
Các Thẩm phán:
Ông ùi Văn Phương.
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n ki m t nh n d n t nh Đồng Th p tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tài - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16/8/2018 và ngày 20/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 296/2017/TLPT-DS, ngày 21/12/2017 về vi c tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do n án dân sự sơ thẩm số 71/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huy n C bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 205/2018/QĐ-PT ngày 24 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: 1/ Võ Văn A - sinh năm 1948,
2/ Võ Thị Cẩm V - sinh năm 1953,
3/ Võ Văn C - sinh năm 1966;
Cùng địa chỉ: Tổ 1, ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp.
4/ Võ Thị Đ - sinh năm 1959; (có mặt).
Địa chỉ: Ấp ình H, xã Mỹ H, huy n C, tỉnh Đồng Tháp.
5/ Võ Văn H - sinh năm 1968; (có mặt).
Địa chỉ: đường Lê L, Khóm 3, Phường 2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại di n theo ủy quyền của ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, ông Võ Văn C là bà Võ Thị Đ, sinh năm: 1959; địa chỉ: ấp ình H, xã Mỹ H, huy n C, tỉnh Đồng Tháp (theo v n b n ủy quyền ngày 28/5/2018).
Người b o v quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn: Luật sư Huỳnh Thị Q - Trưởng Văn phòng luật sư Q – Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp, (có mặt).
- Bị đơn: 1/ Thái Thị H - sinh năm 1961; (có mặt)
Địa chỉ: khóm Mỹ P, Phường 3, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2/ Võ Quang T - sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người b o v quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Luật sư Võ Phát T - Văn phòng luật sư Đ – Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp, (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Trần Văn Đ - sinh năm 1960; (có mặt)
Địa chỉ: Khóm Mỹ T, phường Mỹ P, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2/ Võ Văn C1 - sinh năm 1951; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Hội T, huy n C, tỉnh Đồng Tháp.
3/ Đoàn Thị H - sinh năm 1975; (có mặt)
Địa chỉ: Khóm 3, Phường 2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
4/ Ủy ban nhân dân huy n C;
Đại di n theo ủy quyền: ông Lê Chí T - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huy n C;
Địa chỉ: Khóm Mỹ T, thị trấn Mỹ T, huy n C, tỉnh Đồng Tháp, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Theo đơn kháng cáo của bà Thái Thị H là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, ông Võ Văn C, bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị H, ông Võ Văn C1 cùng trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của ông nội các ông, bà tên Võ Văn Đ để lại cho cha các ông, bà là ông Võ Văn G từ trước năm 1975. Kho ng năm 1980, khi Nhà nước có chủ trương thành lập Tập đoàn s n xuất thì ông G đã thống nhất đưa đất cho Tập đoàn qu n lý. Sau một thời gian hoạt động không hi u qu đến năm 1986 Tập đoàn tiến hành giao tr đất lại cho ông G, do có nhiều đất nên ông G nhờ mẹ vợ là bà Nguyễn Thị L đứng tên giùm di n tích đất này trên sổ qu n lý đăng ký ruộng đất ở cấp xã, nhưng thực tế đất thì vẫn do ông G qu n lý và trực tiếp sử dụng, đồng thời là người nộp thuế. Năm 1994 thì ông Võ Văn H là con ông G đứng ra kê khai đất cho bà L để bà L đứng tên QSDĐ giùm nhằm giữ đất cho gia đình, trên cơ sở đó bà L được cấp quyền sử dụng toàn bộ phần đất trên, thuộc các thửa 1237, 1241 và 1277, tờ b n đồ số 1, trước khi kê khai cho bà L đứng tên thì ông G đến nhà bà L (ở Phường 1, thị xã C, nay là thành phố C) để yêu cầu bà L làm tờ giấy tr đất và bà L đồng ý đến tại Ủy ban nhân dân Phường 1 nhờ người trong Ủy ban viết giùm và Ủy ban nhân dân Phường 1 xác nhận vào tờ tr đất. Năm 2002, bà L có đưa cho các nguyên đơn Giấy chứng minh nhân dân và Tờ tr đất để các nguyên đơn đi đăng ký làm thủ tục sang tên từ bà L cho các nguyên đơn đứng tên, nhưng do đất đang có khiếu nại bồi thường về ô đê bao và hoa lợi trên đất nên không tiến hành sang tên được. Đến năm 2004 thì bà L tiếp tục đồng ý giao lại các giấy tờ để các nguyên đơn làm thủ tục sang tên, tuy nhiên sau đó 01 tháng thì bà L chết, khi đó các nguyên đơn đến Ủy ban nhân dân xã để xin chuyển tên quyền sử dụng đất, thì được xã gi i thích ph i chuyển qua tên bà Thái Thị H là người thừa kế duy nhất của bà L, sau đó bà H mới chuyển tên lại cho các nguyên đơn đứng tên thì mới đúng quy định của Luật đất đai, từ hướng dẫn này các nguyên đơn đã gặp và thỏa thuận với bà Thái Thị H con của bà L để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ bà L sang cho bà H và khi bà H đứng tên quyền sử dụng đất thì chuyển tên qua các nguyên đơn đứng tên cho hợp pháp, để làm thủ tục này các nguyên đơn ph i hỗ trợ cho bà H 20.000.000đ, thực tế các nguyên đơn đã giao trước cho bà H là 13.000.000đ. Tuy nhiên, sau khi bà H được đứng tên quyền sử dụng đất thì bà H không thực hi n đúng thỏa thuận nên các nguyên đơn tranh chấp cho đến nay. Sự vi c được tiến hành hòa gi i tại an nhân dân ấp Thanh T ngày 14/5/2015 nhưng không thành và tại đây bà H đã tr lại số tiền 13.000.000đ cho các nguyên đơn trước sự chứng kiến của an nhân dân ấp. Các nguyên đơn không thừa nhận thuê đất như lời bà H trình bày. Dù biết rõ đất đang tranh chấp, nhưng bà H đã chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất này cho anh Võ Quang T ngày 28/7/2015 sau đó anh T chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn Đ ngày 30/11/2015 hi n tại phần đất đang tranh chấp gồm các thửa số 80 tờ b n đồ số 8, thửa số 256, thửa số 264, thửa số 271 và thửa số 280 cùng tờ b n đồ số 4, ấp Thanh T, xã Nhị M do ông Đ đứng tên quyền sử dụng, nhưng các nguyên đơn là người trực tiếp canh tác.
Nay ông A, bà Vân, bà Đ, ông C và ông H yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đ đối với phần đất tranh chấp, thuộc các thửa 80 tờ b n đồ số 8 và các thửa số 256, 264, 271 và 280 cùng tờ b n đồ số 4, tọa lạc ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C đồng thời yêu cầu công nhận quyền sử dụng toàn bộ di n tích trên cho các nguyên đơn.
Bà Thái Thị H trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của mẹ bà tên Nguyễn Thị L với di n tích đất là 13.046m2 (di n tích đo đạc thực tế là 13.381,6m2); còn vi c từ đâu bà L có thì bà không biết, bà L được cấp đất năm 1994, vi c cấp đất cho bà L là cấp lần đầu và khi cấp đất thì bà L có canh tác đất. Trước năm 1993 thì bà L sống ở xã Nhị M, từ năm 1993 thì bà L về sinh sống với bà ở Phường 1 thành phố C. à là con duy nhất của bà L, kho ng thời gian trước khi chết, do tuổi cao nên bà L cho các nguyên đơn thuê lại đất canh tác, giá thuê bao nhiêu thì bà không biết rõ, nhưng có thấy mỗi lần các nguyên đơn đến nhà tr tiền và gạo thuê đất này. Năm 2004, bà L chết, bà là con duy nhất nên được thừa hưởng toàn bộ di n tích đất 13.046m2 nêu trên và bà cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2014 gồm các thửa 271, 264, 280, 256 và thửa đất số 80. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà có đến yêu cầu các nguyên đơn tr lại đất (chỉ nói mi ng) nhưng các nguyên đơn không đồng ý tr đất từ đó x y ra tranh chấp cho đến nay, Bà không thừa nhận giấy tr đất do các nguyên đơn đưa ra vì mẹ bà là bà L không biết chữ. Ngoài ra bà H cũng trình bày vào năm 2014 không có thỏa thuận với các nguyên đơn về vi c chuyển tên quyền sử dụng đất từ bà L sang cho bà để sau đó bà chuyển tên lại cho các nguyên đơn, đồng thời bà cũng không có nhận 13.000.000đ như các nguyên đơn đã trình bày. Phần đất tranh chấp 13.381,6m2 bà Thái Thị H được cấp giấy CNQSDĐ ngày 13/01/2015 có nguồn gốc sử dụng từ nhận thừa kế của bà Nguyễn Thị L nên bà H đã chuyển nhượng cho anh Võ Quang T ngày 28/7/2015 và anh T đã chuyển nhượng lại cho Trần Văn Đ ngày 30/11/2015 hi n tại ông Trần Văn Đ là người đứng tên quyền sử dụng. Vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà L đến ông Đ theo đúng quy định của pháp luật, do đó bà Thái Thị H không đồng ý tr lại đất theo yêu cầu của các nguyên đơn.
Anh Võ Quang T, ông Trần Văn Đ trình bày: Xác định là có nhận chuyển nhượng đất của bà Thái Thị H như bà H đã khai, vi c chuyển nhượng đất là thực hi n trên giấy chứng nhận, không ra thực địa, cho nên anh T và ông Đ không yêu cầu Tòa án gi i quyết gì trong vụ ki n này.
Tại n án dân sự sơ thẩm số 71/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huy n C đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H.
- Ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H là những người có quyền sử dụng và được tiếp tục sử dụng đối với phần đất tranh chấp gồm các thửa số 80, tờ b n đồ số 8; các thửa số 256, 264, 271 và 280 cùng tờ b n đồ số 4 tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp (hi n trạng đất theo các iên b n xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/01/2016, ngày 04/3/2016 và các Sơ đồ đo đạc ngày 18/01/2016, ngày 28/3/2016).
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Văn Đ đối với các thửa đất số 80 tờ b n đồ số 8; các thửa số 256, 264, 271 và 280 cùng tờ b n đồ số 4 tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đối với toàn bộ phần đất nói trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Thái Thị H, anh Võ Quang T và ông Trần Văn Đ ph i liên đới chịu 33.438.000 đồng.
+ Ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H không ph i chịu án phí sơ thẩm và được nhận lại 16.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 037308 ngày 09/12/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n C.
- Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá: Bà Thái Thị H, anh Võ Quang T và ông Trần Văn Đ ph i liên đới chịu tổng cộng 5.649.200 đồng; bà H, anh T, ông Đ nộp để tr lại cho các nguyên đơn vì các nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước và đã chi xong.
Ngoài ra, b n án sơ thẩm còn tuyên thời hạn kháng cáo của các đương sự và quyền yêu cầu thi hành án.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/10/2017 bà Thái Thị H là bị đơn kháng cáo toàn bộ b n án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Thái Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người b o v quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn Luật sư Võ Phát T đề nghị hủy b n án sơ thẩm với lý do vi phạm tố tụng nghiêm trọng vì xác định sai tư cách tố tụng bà Thái Thị H và anh Võ Quang T là bị đơn, thực tế bà H và anh T không ph i là người đang sử dụng cũng như là người đứng tên quyền sử dụng đất, hi n tại đất tranh chấp đang do ông Trần Văn Đ đứng tên QSD, cho nên, bà H và anh T không còn đối tượng để giao cho các nguyên đơn. Về nội dung vụ án chính ông Võ Văn H là người kê khai đất cho bà L nên vi c cấp đất cho bà L là đúng quy định của luật đất đai, khi cấp đất có niêm yết công khai và không có ai tranh chấp, vấn đề này đã được Ủy ban nhân dân huy n C xác nhận bằng văn b n; Tờ tr đất là không có giá trị pháp lý vì người xác nhận đã có lời khai chỉ xác nhận nơi cư trú, hơn nữa di n tích ghi trong giấy là 9,400 công không đúng với di n tích tranh chấp; Bà H là người thừa kế duy nhất của bà L đã được cấp giấy CNQSD đất một cách hợp pháp cho nên Tòa sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn là làm nh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị đơn, ngoài ra án sơ thẩm buộc anh Võ Quang T và ông Trần Văn Đ chịu án phí sơ thẩm là không đúng nên đề nghị hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định của pháp luật.
Các nguyên đơn ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, ông Võ Văn C, bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn H giữ nguyên yêu cầu khởi ki n.
Người b o v quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn Luật sư Huỳnh Thị Q đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của các nguyên đơn vì rõ ràng nguồn gốc đất là của cha các nguyên đơn nhờ bà Nguyễn Thị L là mẹ của bà Thái Thị H đứng tên giùm, bà L và bà H không có một ngày canh tác đất, trong khi đó ông G và các nguyên đơn đã trực tiếp canh tác, nộp thuế cho Nhà nước từ trước năm 1975 đến nay, do đó b n án của Tòa án huy n C tuyên là có căn cứ nên cần giữ y án sơ thẩm và đề nghị bác toàn bộ kháng cáo của bà Thái Thị H.
- Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến về vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý xem xét gi i quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hi n đúng quy định của ộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên còn một số đương sự liên quan chưa chấp hành nghiêm giấy tri u tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Di n tích tranh chấp 13.381,6m2 có nguồn gốc là của ông G đã được các nguyên đơn, bị đơn xác định, các nguyên đơn là người trực tiếp sử dụng liên tục từ trước năm 1975 đến nay, đất tranh chấp đã được ấp Thanh T, xã Nhị M tiến hành hòa gi i ngày 14/5/2015 và tranh chấp cho đến nay, nhưng bà H biết mà cố ý chuyển nhượng cho anh Võ Quang T và sau đó anh T chuyển nhượng cho ông Trần Văn Đ là không đúng Luật đất đai, hơn nữa bà L được cấp đất nhưng không ph i do chính bà kê khai, mà ông Võ Văn H là người kê khai thay, nên không phù hợp với Nghị định 43 của Chính phủ, vì vậy, cần ph i giữ nguyên b n án sơ thẩm phần công nhận đất cho các nguyên đơn, tuy nhiên b n án sơ thẩm chỉ tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn Đ đứng tên thì chưa đầy đủ vì đất tranh chấp trước đó có bà Nguyễn Thị L, bà Thái Thị H, anh Võ Quang T đứng tên sử dụng, nhưng không hợp pháp, nên cần ph i hủy hết tất c các giấy chứng nhận của bà L, bà H, anh T và ông Đ để các nguyên đơn đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng theo đúng quy định của Luật đất đai, cho nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng kho n 2 Điều 308 LTTDS sửa một phần b n án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Án sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất gồm các thửa số 80, tờ b n đồ số 8; các thửa số 256, 264, 271 và 280 cùng tờ b n đồ số 4, tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp cho các nguyên đơn ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, ông Võ Văn C, bà Võ Thị Đ và ông Võ Văn H là có căn cứ, phù hợp với thực tế khách quan, vì đất trên có nguồn gốc từ ông Võ Văn G là cha của các nguyên đơn, vấn đề này đã được các đương sự thừa nhận, những người trong ban qu n lý Tập đoàn s n xuất giai đoạn năm 1980 đến năm 1986 cũng xác nhận, đồng thời các nguyên đơn là những người trực tiếp canh tác liên tục từ năm 1975 đến nay. Vào năm 1994 di n tích tranh chấp bà Nguyễn Thị L là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà chỉ đứng tên giùm cho con rể là ông Võ Văn G (cha các nguyên đơn) điều này được chứng minh qua tờ tr đất của bà L ký ngày 13/06/1993 và bà L không trực tiếp qu n lý sử dụng đất, người kê khai đất là ông Võ Văn H (con ông G), đồng thời trước khi bà Thái Thị H được đứng tên thừa kế quyền sử dụng đất thì bà H đã thỏa thuận với phía nguyên đơn là nhận trước 13.000.000 đồng trên tổng số 20.000.000 đồng, để khi được đứng tên quyền sử dụng đất thì bà sẽ chuyển lại cho các nguyên đơn đứng tên, cho nên n án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn là đúng với Điều 203, Điều 26, Điều 166 Luật đất đai. Vì vậy, cần giữ nguyên phần công nhận quyền sử dụng đất của án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị đơn Thái Thị H cũng như lời trình bày của người b o v quyền và lợi ích hợp pháp của bà H cho rằng di n tích đất tranh chấp là của đương sự được thừa kế từ mẹ là bà Nguyễn Thị L, Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận cho bà đứng tên quyền sử dụng đúng theo trình tự thủ tục, không có tranh chấp, nên bà H đứng tên quyền sử dụng là hợp pháp, bà L cho các nguyên đơn thuê bằng hợp đồng mi ng, hơn nữa giấy tr đất ghi không đúng di n tích là không hợp pháp, nên bà yêu cầu các nguyên đơn tr đất lại cho bà, nhưng lời trình bày của bà Thái Thị H không có gì chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận.
Thực tế di n tích đất tranh chấp 13.381,6m2 tại thửa số 80, tờ b n đồ số 8 và tại thửa số 256, 264, 271, 280 cùng tờ b n đồ số 4, tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp, hi n tại ông Trần Văn Đ là người đứng tên quyền sử dụng đất, do nhận chuyển nhượng từ anh Võ Quang T, anh T được cấp quyền sử dụng đất từ vi c nhận chuyển nhượng của bà Thái Thị H người được đứng tên đất với tư cách là người thừa kế duy nhất của bà Nguyễn Thị L, nhưng phần đất tranh chấp là của hộ ông Võ Văn G nhờ bà L là mẹ vợ của ông G đứng tên giùm vào năm 1994, thông qua sự kê khai của ông Võ Văn H con của ông G, bà L đứng tên nhưng các nguyên đơn trực tiếp canh tác đất từ năm 1975 đến nay, vi c tranh chấp đã x y ra từ tháng 5 năm 2015 bà H biết mà vẫn chuyển nhượng đất, về phía anh T và ông Đ khi nhận chuyển nhượng thì không đến thực địa mà chỉ giao dịch trên giấy và lời nói, vì vậy, vi c chuyển nhượng đất của các đương sự là không hợp pháp, cho nên án sơ thẩm hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông Trần Văn Đ là đúng pháp luật, tuy nhiên để toàn di n và đ m b o giai đoạn thi hành án cần ph i sửa lại cách tuyên án của án sơ thẩm cụ thể như sau: Hủy toàn bộ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho ông Trần Văn Đ, anh Võ Quang T, bà Thái Thị H, bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 80 tờ b n đồ số 8; các thửa số 256, 264, 271 và 280 cùng tờ b n đồ số 4 (trước đây là thửa 1237, 1241 và 1277 cùng tờ b n đồ số 1) đất tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp.
Về án phí sơ thẩm và l phí đo đạc thẩm định và định giá, b n án sơ thẩm đã tuyên buộc ông Trần Văn Đ và anh Võ Quang T cùng liên đới với bà Thái Thị H chịu án phí sơ thẩm và chi phí thẩm định, định giá. Tuy nhiên xét thấy ông Đ và anh T không yêu cầu gi i quyết gì trong vụ án và án sơ thẩm cũng nhận định không xem xét gi i quyết nhưng lại tuyên buộc liên đới chịu án phí sơ thẩm cũng như l phí đo đạc thẩm định, định giá là không đúng với Điều 147 Điều 157, Điều 165 ộ luật tố tụng dân sự, vì vậy, cần sửa án sơ thẩm buộc bà Thái Thị H ph i chịu toàn bộ án phí sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định và định giá cho đúng quy định. Do sửa một phần b n án sơ thẩm nên bà Thái Thị H không ph i chịu án phí phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại di n Vi n kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giữ y án sơ thẩm phần công nhận quyền sử dụng đất của các nguyên đơn, áp dụng kho n 2 Điều 308 LTTDS sửa phần tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn Đ, anh Võ Quang T, bà Thái Thị H và bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 80, tờ b n đồ số 8 và tại thửa số 256, 264, 271, 280 cùng tờ b n đồ số 4 (trước đây là thửa 1237, 1241 và 1277 cùng tờ b n đồ số 1) tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp vì những người này đứng tên không hợp pháp, có như vậy mới toàn di n và đ m b o giai đoạn thi hành án; Quan điểm này của Vi n kiểm sát là phù hợp với các nguồn chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với thực tế khách quan và có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ kho n 2 Điều 308, Điều 147, Điều 157, Điều 165 ộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 203, Điều 26, Điều 166 Luật đất đai; Pháp l nh số 10/2009/U TVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, l phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thái Thị H.
2/ Sửa một phần B n án sơ thẩm số 71/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huy n C, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H.
- Công nhận cho ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H là những người có quyền sử dụng đất và được tiếp tục sử dụng đối với phần đất tranh chấp có tổng di n tích là 13.381,6m2 gồm các thửa số 80, tờ b n đồ số 8; các thửa số 256, 264, 271 và 280 cùng tờ b n đồ số 4, tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp (hi n trạng đất theo các iên b n xem xét, thẩm định tại chỗ và các Sơ đồ đo đạc ngày 15/01/2016, ngày 04/3/2016).
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Văn Đ, anh Võ Quang T, bà Thái Thị H, bà Nguyễn Thị L đối với các thửa đất số 80 tờ b n đồ số 8; các thửa số 256, 264, 271 và 280 cùng tờ b n đồ số 4 (trước đây là thửa 1237, 1241 và 1277, tờ b n đồ số 1) đất tại ấp Thanh T, xã Nhị M, huy n C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đối với toàn bộ phần đất nói trên.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Thái Thị H ph i chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 33.438.000 đồng.
- Ông Võ Văn A, bà Võ Thị Cẩm V, bà Võ Thị Đ, ông Võ Văn C và ông Võ Văn H không ph i chịu án phí sơ thẩm và được nhận lại 16.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 037308 ngày 09/12/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n C.
- Anh Võ Quang T và ông Trần Văn Đ không ph i chịu án phí dân sự sơ thẩm.
4/ Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Thái Thị H không ph i chịu án phí phúc thẩm, bà H được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 16162 ngày 12/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n C.
5/ Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá:
- Bà Thái Thị H ph i chịu 5.649.200 đồng, do ông Võ Văn C đã nộp tạm ứng trước và đã chi xong, nên buộc bà Thái Thị H hoàn tr lại cho ông Võ Văn C số tiền là 5.649.200 đồng.
- Anh Võ Quang T và ông Trần Văn Đ không ph i chịu chi phí xem xét, thẩm định và định giá.
Đối với số tiền hoàn tr khi có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án, mà bên ph i thi hành án không thi hành thì hàng tháng ph i chịu thêm phần tiền lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại kho n 1 Điều 468 của ộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong.
Trường hợp b n án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
n án phúc thẩm có hi u lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh ĐT; - TAND huy n C; - CCTHADS huy n C; - Phòng GĐKTNV và THA; - Các đương sựï; -Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trương Phước Tự |