vanban.org

Bản án 19

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (đi…"
  • Căn cứ chính? luật hình sự đ i; Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật t tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N NH N N

NG H

H

H NGH V T N M H N PHONG THỔ

Đ c p - T do - H nh ph c T NH

H n án s :19/2021/HS - ST Ngày: 18/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚ

NG H

H

H NGH V T N M

T

N NH N N H N PHONG THỔ, T NH

H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: à Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh - Ông Lò Văn Chiên

Thư ký phiên tòa: à Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhài - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý s : 20/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 20/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đ i với bị cáo:

hẻo Sài S (tên gọi khác: Không) sinh năm: 1970; Nơi sinh: Huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT: n Lùng Than, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Chẻo Sn Mìn (tên gọi khác Chẻo Xuân Mìn, đã chết) và bà Lý San M (đã chết); vợ Phàn Sì M, sinh năm 1969 và có 06 con, con lớn sinh năm: 1994, con nhỏ sinh năm: 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 29/8/2013 Chẻo Sài S bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại n án s : 18/2013/HSPT. Ngày 26/11/2014, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

+ Ngày 28/02/2017 Chẻo Sài S bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại n án s : 24/2017/HSST. ngày 10/3/2019, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. C hai b n án trên đều đã được xóa án tích.

ị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2021, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cho đến nay có mặt tại phiên tòa

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu. (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1) Bà Phàn Sì M, sinh năm: 1969

Địa chỉ: n Lùng Than, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt).

2) Chị Tẩn San M, sinh năm: 1989

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt).

3) Chị Lý San M, sinh năm: 1997

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt).

- Người làm chứng:

1) Anh Lý Phủ H, sinh năm: 1991

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt).

2) Anh Phàn Diếu L, sinh năm: 1979

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt). Người phiên dịch cho anh Liều: Anh Phàn Lao L, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ dân ph Pa So, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt)

3) Anh Chẻo Láo S, sinh năm: 2001

Địa chỉ: n Lùng Than, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt).

4) Anh Tẩn Phụ X, sinh năm: 1992

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt).

5) Anh Tẩn Chin T, sinh năm: 1982

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (có mặt).

6) Anh Chẻo Phủ P, sinh năm: 1993

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

7) Anh Chẻo Láo L (tên gọi khác Chẻo Văn Chí) , sinh năm: 1997

Địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

N

NG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo lời khai của Lý Phủ H: Do biết Phàn Lao S chuẩn bị sang Trung Qu c làm thuê, nên kho ng 11 giờ ngày 09/5/2021 Lý Phủ H cùng vợ là Tẩn San M sang nhà S đặt vấn đề mu n cùng S sang Trung Qu c tìm việc làm. S đồng ý và hẹn 15 giờ chiều cùng ngày tập trung để đi. iết tin vợ chồng H đi sang Trung Qu c làm thuê nên Chẻo Phủ P và vợ là Lý San M, Phàn Diếu Liều, đặt vấn đề mu n cùng vợ chồng H sang Trung Qu c tìm việc làm, vợ chồng H đồng ý và hẹn chiều tập trung tại nhà b vợ H để cùng nhau đi sang Trung Qu c tìm việc làm. Sau đó, vợ chồng H nhờ Tẩn Phụ X, vợ chồng P nhờ Chẻo Láo L, Phàn Diếu Liều nhờ Tẩn Chin T, điều khiển xe mô tô của gia đình để lên khu vực biên giới Việt Nam - Trung Qu c tìm đường sang Trung Qu c tìm việc làm và được X, L, T đồng ý. Do đã hẹn trước nên kho ng 16 giờ cùng ngày, c nhóm xuất phát từ xã B n Lang, huyện Phong Thổ đi lên xã Mù Sang, huyện Phong Thổ.

Đến kho ng 17 giờ cùng ngày khi đi đến b n Lùng Than, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ do không gặp được Phàn Lao S và không biết đường đi đến S i biên giới để vượt biên trái phép sang Trung Qu c nên H gọi điện cho Lý Láo L (là cháu của H và cũng là con rể của Chẻo Sài S) hỏi xin s điện thoại của S. Sau đó, H b o Tẩn San M gọi vào s điện thoại “0399.067.921” nhờ S dẫn đường. Hai lần đầu gọi thì vợ S là Phàn Sì M nghe máy, M tr lời S đi chợ Dào San chưa về. Sau đó, vợ chồng H tiếp tục gọi điện thoại vào s điện thoại của M, M nghe máy và chuyển điện thoại cho S nói chuyện với H. Qua nói chuyện, Hẻng giới thiệu là em trai của thông gia với gia đình S ở b n Nậm Lùng, xã B n Lang, huyện Phong Thổ, H b o có việc mu n nhờ S giúp và hẹn gặp S tại nhà để nói chuyện. Sau đó, H tắt máy và tiếp tục cùng mọi người điều khiển xe mô tô đến nhà S.

Đến kho ng 19 giờ 30 phút cùng ngày, vợ chồng H và X đến nhà S. Tại đây, Hẻng b o mu n sang Trung Qu c làm thuê nhưng lâu không đi nên không nhớ đường và nhờ S dẫn đường ra S i biên giới để vượt biên trái phép sang Trung Qu c làm thuê, công việc là làm nồi cơm điện, chủ người Trung Qu c đã sắp xếp xe về đón ở phía bên kia S i biên giới rồi. Nghe H nói vậy, lúc đầu S từ ch i nhưng do H là họ hàng của gia đình thông gia và H nhờ nhiều nên S đồng ý. C hai thỏa thuận m i người vượt biên sang Trung Qu c s tr tiền công dẫn đường cho S s tiền là 100.000 đồng/01 người, khi đưa được người sang biên giới thành công thì S mới nhận tiền. Sau đó, vợ chồng H thông báo cho Chẻo Phủ P, Lý San M, Phàn Diếu Liều về việc tr tiền công dẫn đường cho S 100.000 đồng/01 người và th ng nhất khi đến S i biên giới s tr tiền công dẫn đường cho S. Do biết S dẫn mọi người đi ra S i biên giới để sang Trung Qu c làm thuê nên con trai S là Chẻo Láo Sử, sinh năm 2001 b o mu n cùng đi với nhóm của H sang Trung Qu c tìm việc làm, S đồng ý. Trước khi đi, H hỏi S đi đông thế này mà gặp cán bộ Biên phòng thì ph i tr lời thế nào, S b o nếu gặp cán bộ Biên phòng thì b o đi chợ Sì Choang, xã Vàng Ma Ch i chơi.

Sau đó, S lấy xe mô tô của gia đình nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen mang BKS: 25P1-490.31 chở S đi trước dẫn đường, theo sau là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen mang BKS: 25P1-004.85 do H điều khiển chở X và Tẩn San M; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen mang BKS: 27S1-004.89 do L điều khiển chở Chẻo Phủ P và Lý San M; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC màu đỏ đen mang BKS: 25P1-204.96 do Liều điều khiển chở T đi từ b n Lùng Than, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ lên khu vực xã Vàng Ma Ch i, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Kho ng 21 giờ 55 phút ngày 09/5/2021, khi đi đến khu vực tiếp giáp M c 70 (2) thuộc b n Hoang Thèn, xã Vàng Ma Ch i, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu thì Chẻo Sài S và những người đi cùng dừng xe lại, đi theo đường tắt xu ng S i biên giới để Lý Phủ H, Tẩn San M, Chẻo Phủ P, Lý San M, Phàn Diếu Liều vượt biên trái phép sang Trung Qu c thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Vàng Ma Ch i - Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu phát hiện, yêu cầu xuất trình các giấy tờ có liên quan đến việc xuất c nh và giấy tờ ra vào khu vực biên giới nhưng S và những người đi cùng không cung cấp được các giấy tờ trên. Qua kiểm tra, S khai nhận đang dẫn đường cho nhóm của H vượt S i biên giới để sang Trung Qu c làm thuê. Tổ công tác Đồn iên phòng Vàng Ma Ch i - ộ đội iên phòng tỉnh Lai Châu đã tiến hành lập biên b n bắt người phạm tội qu tang đ i với Chẻo Sài S về hành vi tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- Thu giữ của Chẻo Sài S 01 xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 25B1 - 490.31, s khung RLHJA3800GY114857, s máy JA38E-0278423, kèm theo chìa khóa xe.

- Thu giữ của Phàn Sì M 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0399.067.921.

- Thu giữ của Tẩn San M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0332.567.561 và 200.000 đồng.

- Thu giữ của Lý San M 200.000 đồng.

S vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ

Đ i với s tiền thu giữ của Tẩn San M 200.000 đồng và thu giữ của Lý San M 200.000 đồng. Tại b n kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: S tiền 400.000 đồng gửi đến giám định đều là tiền thật.

Tại n cáo trạng s : 64/VKSLC-P1 ngày 01/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy t bị cáo Chẻo Sài S về tội: “Tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài” theo quy định tại điểm c kho n 2 Điều 349 của ộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy t đ i với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào điểm c kho n 2 Điều 349; Điểm s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 57, 38 ộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chẻo Sài S từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội: “Tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ Sng theo quy định tại kho n 4 điều 349 - ộ luật hình sự đ i với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 - ộ luật hình sự và điều 106 - ộ luật t tụng hình sự, đề nghị:

Tr lại 01 xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 25 1 - 490.31, s khung RLHJA3800GY114857, s máy JA38E-0278423, kèm theo chìa khóa xe và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0399.067.921 cho bà Phàn Sì M.

Tr lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0332.567.561 cho Tẩn San M.

Đ i với s tiền 200.000 đồng thu giữ của Tẩn San M và 200.000 đồng thu giữ của Lý San M, xét thấy s tiền của chị Tẩn San M và chị Lý San M dùng vào mục đích tr tiền công cho bị cáo Chẻo Sài S nên đề nghị tịch thu Sng quỹ Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết s : 326/2016/U TVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu nộp, qu n lý và S dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo: Xuất phát từ việc thân quen, họ hàng nên bị cáo đã giúp đỡ không vì lợi nhuận vì vậy mới phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu s s ng ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội chưa đạt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 57 ộ luật hình sự đ i với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng ¾ dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đ i với bị cáo, miễn hình phạt bổ Sng và miễn án phí cho bị cáo.

Ngững người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với b n luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu.

ị cáo không bổ Sng ý kiến gì thêm và nhất trí với b n cáo trạng và không tranh luận với b n luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: ị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH

T

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên, Đồn biên phòng Vàng Ma Ch i - ộ đội tỉnh Lai Châu trong quá trình điều tra truy t , đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của ộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng, Đồn biên phòng Vàng Ma Ch i. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng và của Đồn biên phòng Vàng Ma Ch i đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục t tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng Hội đồng xét xử xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của những người làm chứng và lời khai của bị cáo không mâu thuẫn với nhau, nên việc vắng mặt của những người làm chứng không nh hưởng đến việc gi i quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 293; Điểm d kho n 2 Điều 308 - ộ luật t tụng hình sự, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy t , phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, vì vậy có đủ cơ sở khẳng định như sau:

Kho ng 21 giờ 55 phút ngày 09/5/2021, tại khu vực m c 70 (2) thuộc b n Hoang Thèn, xã Vàng Ma Ch i, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Chẻo Sài S đang có hành vi tổ chức, dẫn đường cho 05 người gồm: Lý Phủ H, Tẩn San M, Chẻo Phủ P, Lý San M, Phàn Diếu Liều tr n sang Trung Qu c qua S i biên giới để làm thuê, nhằm tr n tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng để hưởng lợi s tiền công là 100.000 đồng/01 người. Khi những người nêu trên (gồm 05 người) chưa qua khỏi biên giới Việt Nam - Trung Qu c thì bị tổ công tác Đồn iên phòng Vàng Ma Ch i - ộ đội iên phòng tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt qu tang đ i với Chẻo Sài S và lập biên b n bắt người phạm tội qu tang về hành vi tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài.

[4] Đánh giá hành vi của bị cáo HĐXX nhận thấy: Bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức cho 05 người tr n đi nước ngoài trái phép để được hưởng lợi 500.000 đồng trên 05 người, tuy nhiên đang trên đường đi sang biên giới Việt Nam - Trung Qu c thì bị tổ công tác Đồn iên phòng Vàng Ma Ch i - ộ đội iên phòng tỉnh Lai Châu phát hiện. HĐXX xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chưa đạt là nguyên nhân khách quan do Đồn iên phòng Vàng Ma Ch i đã phát hiện và kịp thời ngăn chặn nên bị cáo không có điều kiện để thực hiện tội phạm đến cùng, việc tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài không thành là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, tuy nhiên trong vụ án này không có đồng phạm và những người mu n đi xuất c nh trái phép lại là những người họ hàng thân thích với bị cáo và có nhờ bị cáo dẫn đường để sang Trung Qu c, bị cáo cũng hám lợi khi họ tr công nếu đưa thành công sang Trung Qu c thì m i người s tr cho bị cáo là 100.000 đồng/01 người. HĐXX xem xét áp dụng tình tiết “phạm tội chưa đạt” theo quy định tại Điều 57 ộ luật hình sự để đ m b o quyền lợi cho bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

ị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi vi phạm về xuất, nhập c nh trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn c ý phạm tội, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động qu n lý xuất c nh, nhập c nh của Cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội: “Tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài” theo quy định tại điểm c kho n 2 Điều 349 của ộ luật Hình sự. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy t bị cáo về tội: “Tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài” theo quy định tại điểm c kho n 2 Điều 349 của ộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

[5] Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s kho n 1, 2 điều 51; Điều 15, 57 ộ luật hình sự đ i với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt mức thấp nhất đ i với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ Sng và miễn án phí cho bị cáo. Việc đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa Hội đồng xét xử s xem xét áp dụng một phần đề nghị của người bào chữa để đ m b o quyền lợi cũng như áp dụng đúng quy định của pháp luật đ i với bị cáo, HĐXX chấp nhận đề nghị không áp dụng hình phạt bổ Sng và miễn án phí cho bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu s nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s kho n 1, 2 Điều 51 - ộ luật hình sự. ị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội chưa đạt nên HĐXX xem xét áp dụng Điều 57 ộ luật hình sự để đ m b o quyền lợi cho bị cáo đúng theo quy định của pháp luật.

[8] Xét về nhân thân: ị cáo đã hai lần bị xét xử đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện b n thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy xét về nhân thân bị cáo là xấu nên cần có một mức án nghiêm khắc để c i tạo giáo dục bị cáo, ph i cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[9] Về hình phạt bổ Sng: Xét về điều kiện hoàn c nh kinh tế của bị cáo khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ Sng theo quy định tại kho n 4 Điều 349 ộ luật hình sự là hình phạt tiền đ i với bị cáo.

[10] Về vật chứng:

01 xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 25 1 - 490.31, s khung RLHJA3800GY114857, s máy JA38E-0278423, kèm theo chìa khóa xe thu giữ của bị cáo. Xét thấychiếc xe máy nêu trên là tài s n chung cho gia đình bị cáo và bà Phàn Sì M có đơn xin lại chiếc xe máy nên HĐXX tr lại cho bà Phàn Sì M. Đ i với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0399.067.921 của Phàn Sì M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0332.567.561 và 200.000 đồng của Tẩn San M; 200.000 đồng của Lý San M do những vật chứng nêu trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Chẻo Sài S nên cần tr lại cho những người nêu trên.

[11] Các vấn đề khác:

Đ i với Lý Phủ H, Tẩn San M, Lý San M, Chẻo Phủ P, Phàn Diếu Liều là những người trực tiếp nhờ bị cáo Chẻo Sài S dẫn đường để vượt biên trái phép sang Trung Qu c làm thuê. Kết qu điều tra xác định, chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xuất nhập c nh trái phép do đó hành vi của 05người nêu trên không cấu thành tội xuất c nh trái phép quy định tại Điều 347 ộ luật hình sự. Việc Đồn iên phòng Vàng Ma Ch i - ộ đội iên phòng tỉnh Lai Châu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đ i với 05 người nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

Đ i với Phàn Sì M và Chẻo Láo S kết qu điều tra xác định, M và S không tham gia vào việc “Tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài” cùng với S. Do đó, M và S không đồng phạm với S về tội: “Tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài”.

Đ i với hành vi Chẻo Sài S có đưa Chẻo Láo S (con trai S) đi cùng, mục đích để S đi làm thuê, tuy nhiên S đi cùng và sau đó dừng lại không đi sang Trung Qu c nên bị cáo S không ph i chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Đ i với Tẩn Phụ X, Chẻo Láo L, Tẩn Chin T là những người được 05 người (gồm Lý Phủ H, Tẩn San M, Lý San M, Chẻo Phủ P, Phàn Diếu Liều) nhờ chở bằng xe máy đi sang Trung Qu c và cũng không được hưởng lợi ích gì. Do đó, X, L, T không đồng phạm với S về tội “Tổ chức cho người khác tr n đi nước ngoài”.

Đ i với Phàn Lao S theo Lý Phủ H và Tẩn San M khai nhận là vợ chồng H đến nhà Phàn Lao S để nhờ và đặt vấn đề cùng S sang Trung Qu c. Quá trình điều tra xác định S hiện không có mặt tại địa phương, do vậy không có căn cứ để điều tra xử lý đ i với Phàn Lao S.

Về án phí hình sự sơ thẩm: ị cáo là người dân tộc thiểu s s ng ở khu vực thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu s theo Quyết định s : 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu s và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: ị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 ộ luật t tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

Q ẾT ĐỊNH:

Tuyên b bị cáo Chẻo Sài S phạm tội: “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.

1. Về Hình ph t:

Căn cứ điểm c kho n 2 Điều 349; Điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 57, 38- ộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Chẻo Sài S 04 (b n) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 10/5/2021.

2. Về v t chứng: Căn cứ vào Điều 47- ộ luật hình sự và Điều 106 - ộ luật t tụng hình sự.

- Tr lại 01 xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 25 1 - 490.31, s khung RLHJA3800GY114857, s máy JA38E-0278423, kèm theo chìa khóa xe; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0399.067.921 cho bà Phàn Sì M, địa chỉ: n Lùng Than, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Tr lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, không có thẻ nhớ, có 01 sim khay s 1 có s điện thoại 0332.567.561 và 200.000 đồng cho Tẩn San M, địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Tr lại 200.000 đồng cho Lý San M địa chỉ: n Nậm Lùng, xã n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).

3. Về án phí: Căn cứ vào kho n 1 Điều 21; Điểm đ kho n 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết s : 326/2016/U TVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu nộp, qu n lý và S dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho bị cáo

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật t tụng hình sự. ị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.

THÀNH VIÊN

THẨM PH N H ĐỒNG ÉT Ử

H TỌ PH ÊN T

Nguyễn Thị Phƣơng Nơi nh n:

Cỡ chữ