- Tranh chấp gì? "Lương May An - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương May An phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 19/2022/HS-ST Ngày 12/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Luân;
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Ngọc Lễ;
2. Ông Đinh Thế Hồi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum: Ông Mai Văn Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 12/5/2022, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 21/2022/TLST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 4 năm 2022; đối với bị cáo:
Lương May An, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 12 năm 1986; nơi sinh và Đăng ký HKTT: Bản Đình Tài 1, xã Xiêng My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú (Chỗ ở hiện nay): Thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lương Văn Đoàn (Đã chết) và bà Lương Thị Mính; hiện bà Mính cư trú tại: Bản Đình Tài 1, xã Xiêng My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Y Phin tại: Thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; bị cáo và chị Y Phin chưa có con chung.
Tiền sự: Chưa. Tiền án: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/02/2022 đến ngày hôm nay (12/5/2022), có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Đặng Thị Kim Nguyết, là Trợ giúp viên pháp lý; được cử trợ giúp pháp lý cho bị cáo theo Quyết định số: 16/QĐ-TGPL, ngày 17/02/2022 của Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại:
+ Y Nhen; sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
+ Y Phin; sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có người quen, nên đầu năm 2020 An vào định cư tại huyện Ngọc Hồi, sau đó sống chung như vợ chồng với chị Y Phin tại: Thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Ngày 01/02/2022 (Ngày 01 tết âm lịch), sau một ngày vui tết có uống rượu, bia vào khoảng 19 giờ 00 phút An đi bộ đến nhà chị Y Nhen ở cùng thôn, cách nhà Y Phin khoảng 50m để chúc tết (Chị Y Nhen là chị gái của chị Y Phin). Đến nơi, nhà chị Y Nhen không khóa cửa; An đi vào trong nhà, đi đến cửa phòng ngủ thứ 2 thấy trên giường có 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen của chị Y Nhen; nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại; An lấy điện thoại bỏ vào túi quần đang mặc, thoát ra ngoài theo cửa sau nhà thì chị Y Nhen về phát hiện mất điện thoại, nhìn thấy An đã hô hoán yêu cầu An trả lại điện thoại; An chỉ nghe tiếng la, mang theo điện thoại chạy và lẩn trốn tại lô cao su đến sáng ngày 07/02/2022 (Những ngày trốn trong rừng cao su, vì là ngày tết nên An đến những nhà dân gần nơi trốn để xin ăn) thì đi bộ ra đường NT18 thuộc địa phận xã Đăk Xú, gặp một người đàn ông (Không rõ lai lịch, địa chỉ), mượn điện thoại của người này, An điện thoại cho chị Y Phin sau đó chị Y Phin điểu khiển xe mô tô đến gặp An; An nói cho chị Y Phin biết việc An trộm trắp điện thoại của chị Y Nhen; được chị Y Phin thuyết phục, An đồng ý cùng chị Y Phin đem điện thoại về trả và xin lỗi chị Y Nhen; An nhận thông tin công an xã Đăk Xú mời và An cùng chị Y Phin đến công an xã để An đăng ký tạm trú, và làm việc thì bị công an bắt.
Tại bản kết luận về định giá tài sản tố tụng hình sự số: 332/KL-HĐĐG ngày 08/02/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ngọc Hồi kết luận; tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt điện thoại di động của chị Y Nhen, giá trị điện thoại này là 4.990.000 đồng.
Tại cáo trạng số: 12/CT-VKS-NH ngày 31 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Lương May An về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lương May An mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về tang vật của vụ án;
Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, Lương May An chiếm đoạt của chị Y Nhen cơ quan chức năng đã trả lại cho Y Nhen; nên không kiến nghị HĐXX xem xét.
Về trách nhiệm dân sự và án phí;
Các tài sản bị cáo trộm cắp của người bị hại, bị hại nhận lại tài sản không bị hư hỏng, thiệt hại gì; người bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Bị cáo Lương May An đủ điều kiện được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương May An thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bà Đặng Thị Kim Nguyết có ý kiến: Bị cáo Lương May An đúng là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố; tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo; chưa có tiền án, tiền sự (Bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy sau khi phạm tội trộm cắp tài sản; nên không tính là tiền sự trong vụ án này); tài sản bị cáo trộm cắp không bị hưu hại, đã được trả lại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; bị cáo đủ điều kiện được hưởng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo; miễn nộp tiền án phí cho bị cáo.
Bà Y Nhen trình bày: Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, Lương May An chiếm đoạt của bà; bà đã được cơ quan chức năng trả lại, trong thời gian bị cáo chiếm giữ điện thoại không bị hư hỏng gì; tuy An ở em gái của bà chưa đăng ký kết hôn nhưng An là người chịu khó lao động, tiền công đi làm thuê là do Y Phin giữ lúc bà Y Nhen khó khăn thì An cho tiền và giúp đỡ nên bà không còn có ý kiến gì về tài sản bị chiếm đoạt; bà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Hồi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo; bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/02/2022, bị cáo đi bộ đến nhà chị Y Nhen ở cùng thôn; Bị cáo đi vào trong nhà đi đến phòng ngủ thư 2, thấy trên giường có 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen của chị Y Nhen nảy sinh ý định và bị cáo lén lút bí mật chiếm điện thoại; giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.990.000 đồng. Đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 12/CT-VKS-NH ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Lương May An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy (Loại Heroin); nơi cư trú: Chưa ổn định.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội không có dự mưu trước, khi nhìn thấy tài sản bị cáo mới nảy sinh ý định chiếm đoạt; bị cáo đã đầu thú trước cơ quan chức năng; tự giác giao nộp lại tài sản, không gây thiệt hại trong thời gian chiếm giữ tài sản; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; cần cho bị cáo được hưởng.
Xét tính chất, mức độ của hành vi tội phạm; loại hình phạt, mức hình phạt đối với bị cáo:
Tuy tội phạm do bị cáo thực hiện ít nghiêm trọng, nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy loại hình phạt, mức hình phạt đối với bị cáo theo luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa có một phần, có cơ sở để chấp nhận.
Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Y Phin, tại: Thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; tuy có vi phạm pháp luật Hôn nhân và gia đình nhưng chỉ vi phạm việc chưa đăng ký kết hôn; để bị cáo có điều kiện xây dựng hạnh phúc gia đình với chị Y Phin, tu dưỡng để trở thành người chồng, người cha tốt; bị cáo đã bị tạm giam trên 03 tháng. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy: Y kiến của người bào chữa cho bị cáo có cơ sở để chấp nhận một phần. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; loại hình phạt, mức hình phạt đối với bị cáo, thấy: Cần tuyên phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa là đủ để giáo dục, cải tạo riêng và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Hình phạt đối với bị cáo cũng làm cho bị cáo thấy được sự đúng lý, đạt tình của pháp luật mà tự rèn luyện để trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn; nên không cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về Tang vật của vụ án: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị Y Nhen đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp; chủ sở hữu nhận lại tài sản không có ý kiến gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Y Nhen nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, chị không có ý kiến, yêu cầu gì khác; nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương May An được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lương May An phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; các điểm h, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lương May An 03 (Ba) tháng 07 (Bảy) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (Ngày 07/02/2022).
2. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương May An được miễn nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Ngọc Hồi; - VKSND tỉnh Kon Tum; - CQ Điều tra Công an huyện Ngọc Hồi; - Cơ quan THAHS CA huyện Ngọc Hồi; - CC THADS huyện Ngọc Hồi, khi bản án có hiệu lực; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Luân |