vanban.org

Bản án 19/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019. 2,Về vật chứng: - Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1, Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HSST
Ngày 14/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Hồng Lễ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Văn Chỉnh.

Ông Lý Văn Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 14/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2020/HSST ngày 24/4/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/QĐXXST- HS, ngày 29/4/2020, đối với bị cáo:

Trịnh Văn T - Sinh ngày 28/4/1978, tại Bắc Kạn;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ x, phường P, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn; chỗ ở hiện nay: Tổ Y, phường P, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; quốc tịch: Việt nam; con ông: Không xác định được và bà Trịnh Thị C; chưa có vợ, con; tiền án: 01, bản án số 65/2013/HSST ngày 28/8/2013 của TAND thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn), tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đến ngày 05/11/2018 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019 được tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trịnh Thị C – Sinh năm 1949;

Trú tại: Tổ Y, phường Phùng C, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn – Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 15/12/2019, tại khu vực tổ Y, phường P, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Bắc Kạn bắt quả tang Trịnh Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra người của T, tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải T đang mặc 01 (một) gói chất bột màu trắng có khối lượng 0,15 gam (Mẫu gửi giám định A1); thu giữ tại túi quần đằng trước bên trái T đang mặc 02 (hai) gói chất bột màu trắng có tổng khối lượng 0,26 gam (Mẫu gửi giám định A2), cả 03 gói nói trên đều được gói bằng giấy ghi xổ số có chữ in. Ngoài ra, còn tạm giữ của Trịnh Văn T 01 (một) xi lanh nhựa đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu đen có viền màu đỏ đã qua sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Văn T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bị thu giữ trong quá trình bắt quả tang là ma túy, loại Heroine, T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy (heroine) nói trên do T một mình đi mua tại khu vực bến xe khách tỉnh Thái Nguyên, thuộc phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với một người đàn ông tên là M (nhưng T không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể) với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15 tháng 12 năm 2019. Sau khi mua được ma túy, T trích một phần ma túy vừa mua được ra để sử dụng. Sau khi sử dụng xong, T cất giấu ma túy vào túi quần đằng trước bên trái và bên phải T đang mặc rồi đi xe ô tô khách về thành phố Bắc Kạn. Khi về đến khu vực tổ Y, phường P, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn thì T xuống xe và đi bộ về nhà, thì bị tổ công tác Công an thành phố Bắc Kạn phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 06 ngày 25/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,15g (Không phẩy mười năm gam); Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,26g (Không phẩy hai sáu gam)”.

Với các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSNDTPBK, ngày 22/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Trịnh Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Điều luật có nội dung:

1, Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù một năm đến năm năm.

a,…

c, Heroin có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn vẫn giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo Trịnh Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì ký hiệu T06 và A3 còn nguyên dấu niêm phong, o1 xi lanh nhựa đã qua sử dụng; trả lại cho bà Trịnh Thị C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, vỏ màu đen, có viền màu đỏ đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim số thuê bao 03839468xx.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quá trình tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và bị cáo nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 15/12/2019, tại khu vực tổ Y, phường P, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Trịnh Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,41g (Không phẩy bốn một gam) ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó hành vi của Trịnh Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trịnh Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tổng hợp các chứng cứ lại, đánh giá diễn biến khách quan của vụ án thấy việc truy tố, xét xử bị cáo Trịnh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà lại lao vào con đường phạm tội. Bởi vậy cần phải có một mức án thật nghiêm khắc mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích; bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/ BLHS; được hưởng một tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Mặt khác bị cáo có mẹ đẻ là vợ Liệt sỹ vì vậy khi lượng hình được xem xét giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51/BLHS

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản và nguồn thu nhập nào, khi áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền thì không có tính khả thi. Vì vậy không áp dụng đối với bị cáo.

Về vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy những vật không có giá trị sử dụng gồm: 02 phong bì ký hiệu T06 và A3 còn nguyên dấu niêm phong; 01 xi lanh nhựa đã qua sử dụng.

- Cơ quan Điều tra thu giữ của bị cáo 01điện thoại di động Viettel màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 sim có số thuê bao 03839468xx. Qua điều tra xác định chiếc điện thoại trên là của bà Trịnh Thị C (là mẹ đẻ của bị cáo), không liên quan đến vụ án, do đó cần trả lại cho chủ sở hữu.

(Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập: Các hành vi, quyết định tố tụng và các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên M đã bán ma túy cho bị cáo Trịnh Văn T, do bị cáo không biết họ, địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1, Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/ BLHS.

+ Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 24/12/2019.

2,Về vật chứng: - Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS.

+ Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì ký hiệu T06, A3 còn nguyên dấu niêm phong và 01 xi lanh nhựa đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bà Trịnh Thị C, trú tại tổ Y, phường P, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 01điện thoại di động Viettel màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 sim có số thuê bao 03839468xx.

(Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn ngày 29/4/2020).

3, Về án phí: - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trịnh Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ