- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN MINH H - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh H2 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2026/HS-ST Ngày 29 – 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Sương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Văn Tài
2. Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký viên, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6- Đồng Nai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST - HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh H2; Tên gọi khác: Được. Sinh ngày 20 tháng 5 năm 1993 tại Vĩnh Long. Nơi thường trú: không xác định, Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 2, Trại giam X - Cục C1, Bộ C2. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông Trần Văn S, sinh năm 1959 và bà Lê Thị C (đã chết). Vợ: Huỳnh Thị Hoài T, sinh năm 1997 (chưa đăng ký kết hôn); Con: Có 02 người con. Tại phiên tòa bị cáo xác định: Con lớn nhất tên Huỳnh Hoài H, sinh năm 2015, con nhỏ nhất tên Huỳnh Trần Gia B, sinh năm 2018. Tiền sự: Không. Tiền án: 02, cụ thể:
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2016/HSST ngày 30/3/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 (bảy) tháng 03 (ba) ngày tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). T1 trả tự do cho bị cáo Trần Minh H2 ngay tại phiên tòa. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Đến ngày 10/5/2022 Trần Minh H2 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2022/HS-ST ngày 26/8/2022, bị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 (bảy) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đang chấp hành án tại phân trại số 2, Trại giam X - Cục C1, Bộ C2, ngày 21/11/2025 được trích xuất đến Phân tại tạm giam H – Trại giam S1 Công an tỉnh Đ phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử.
(bị cáo có mặt)
- Bị hại: Anh Phạm Hoài P, sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: 104/5 Đô Đốc L, khu phố I, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phương T, Thành phố Hồ Chí Minh). Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X - Cục C1, Bộ C2.
- Người làm chứng:
1. Ông Huỳnh Trí H1, sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: D L, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh)
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X - Cục C1, Bộ C2.
2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số G, khu phố H, phường P, Thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh)
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X - Cục C1, Bộ C2.
3. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số E Đ, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (Nay là phường L -Đ, tỉnh Lâm Đồng).
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X - Cục C1, Bộ C2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/4/2025, tại hiện trường lao động đội 17, P, Trại giam X, Cục C1-Bộ C2, thuộc xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai), phạm nhân Trần Minh H2, đội 17 đã có hành vi cầm 01 (một) cái kéo (dụng cụ lao động) có kích thước dài 16cm (cán bằng nhựa có hai màu đỏ và đen, dài 11cm; lưỡi kéo bằng kim loại, có chiều dài 05cm) đâm 03 (ba) nhát vào người của phạm nhân Phạm Hoài P đội 17 gây rách da, chảy máu. Trại giam X đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Minh H2 về hành vi Cố ý gây thương tích và niêm phong tang vật theo quy định.
Quá trình điều tra xác định: Trần Minh H2 là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại đội 17 phân trại số 02 Trại giam X. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/4/2025, Trần Minh H2 cùng các phạm nhân của Đội 17 lao động tại hiện trường lao động đội 17, xưởng dạy nghề phân trại số 02, Trại giam X, Cục C1-Bộ C2, thuộc xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai). Trong quá trình đang lao động, Trần Minh H2 kiểm tra, sửa hàng (ghế) để hoàn thiện thì phát hiện ghế số 15 đan bị sai kỹ thuật nên hỏi phạm nhân Phạm Hoài P “Cái ghế số 15 do mày làm phải không P”, thì P trả lời “đúng rồi”. Phạm nhân H2 tiếp tục nói với phạm nhân P “Mày qua đây tao chỉ lỗi đan sai này”, phạm nhân P nói “Mày chỉ luôn đi tao đứng đây thấy được”. Do bực tức phạm nhân P không qua sửa hàng nên phạm nhân H2 đi đến gặp trực tiếp phạm nhân P để nói chuyện. Sau đó, cả hai xảy ra cự cãi với nhau, phạm nhân P đẩy phạm nhân H2 té xuống nền nhà xưởng. Lúc này, phạm nhân H2 thấy dưới nền nhà có 01 (một) cái kéo (dụng cụ lao động) có kích thước dài 16cm (cán bằng nhựa có hai màu đỏ và đen, dài 11cm; lưỡi kéo bằng kim loại, có chiều dài 05cm) nên phạm nhân H2 đã dùng tay phải nhặt cây kéo cầm trong lòng bàn tay phải, mũi kéo hướng xuống đất, rồi lao đến tấn công bằng cách cắt, rạch theo chiều ngang từ phải qua trái, từ trên xuống, trúng một cái gây rách da vùng ngực trái và một cái gây rách da vùng bắp tay phải của phạm nhân P. Bị phạm nhân H2 tấn công, theo phản xạ phạm nhân P quay lưng lại để tránh thì phạm nhân H2 tiếp tục sử dụng kéo cắt, rạch nhiều cái trúng vùng sau cổ phạm nhân P gây thương tích, thì được các phạm nhân cùng xưởng can ngăn. Ngay sau khi sự việc xảy ra, Trại giam X đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Trần Minh H2 về hành vi Cố ý gây thương tích như đã nêu trên, phạm nhân P được đưa đến Cơ sở y tế của Trại giam X sơ cứu vết thương, rồi đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế K đến 16 giờ 09 phút cùng ngày thì được xuất viện.
* Tại biên bản làm việc về việc xác minh thời gian bị thương tích của phạm nhân Phạm Hoài P của Cơ sở y tế Trại giam X lúc 16 giờ 00 phút ngày 21/4/2025, thể hiện: Vào lúc 14 giờ 10 phút ngày 21/4/2025 tại Bệnh xá Phân trại số 02 Trại giam X đã sơ cứu và xử lý vết thương cho phạm nhân Phạm Hoài P, có 03 vết thương: 01 vết thương trước cánh tay phải gây rách da chảy máu, dài khoảng 02cm khâu 03 mũi. 01 vết thương vùng ngực trái gây rách da chảy máu, dài khoảng 04cm. 01 vết thương vùng cổ, phía sau gây rách da, chảy máu, dài khoảng 03cm khâu 03 mũi.
* Tại giấy chứng nhận thương tích số 23/CN-TTYT ngày 24/4/2025 của Trung tâm y tế huyện K đối với phạm nhân Phạm Hoài P, chứng nhận:
- Tình trạng thương tích lúc vào viện (15 giờ 35 phút ngày 21/4/2025):
+ Vết thương mặt trước dưới cánh tay phải, kích thước 04cm;
+ Vết thương mặt sau cổ, kích thước 03cm đã khâu;
+ Vết thương ngực trái, kích thước 01cm đã khâu.
* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1876/KLTTCT-C09B ngày 12/5/2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc V, kết luận thương tích đối với phạm nhân Phạm Hoài P:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương vùng cổ sau, bờ gọn, kích thước trung bình: 04%
- 03 vết thay đổi sắc tố da vùng cổ trái, mỗi vết: 01%
- Vết thương kích thước nhỏ cánh tay phải, bờ gọn: 01%
- Vết thương kích thước nhỏ ngực trái, bờ gọn: 01%
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2029 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Hoài P tại thời điểm giám định là 09% (Chín phần trăm), áp dụng phương áp cộng Thông tư.
Thương tích của Phạm Hoài P có đặc điểm phù hợp do vật có cạnh sắc tác động gây ra.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) cái kéo (dụng cụ lao động) có kích thước dài 16cm (cán bằng nhựa có hai màu đỏ và đen, dài 11cm; lưỡi kéo bằng kim loại, có chiều dài 05cm) thu giữ của Trần Minh H2.
* Trách nhiệm dân sự:
Anh Phạm Hoài P không yêu cầu bị cáo Trần Minh H2 bồi thường về mặt dân sự và có đơn bãi nại, cam kết không yêu cầu, không khiếu nại, không khiếu kiện gì về dân sự đối với vụ việc trên.
* Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSXL ngày 06 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Minh H2, về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Đồng Nai phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Trần Minh H2 mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với phần hình phạt bị cáo chưa chấp hành tại Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2022/HS-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6- Đồng Nai tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái kéo (dụng cụ lao động) có kích thước dài 16cm (cán bằng nhựa có hai màu đỏ và đen, dài 11cm; lưỡi kéo bằng kim loại, có chiều dài 05cm).
* Bị cáo cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm trở về chăm sóc các con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai thực hiện đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/4/2025, tại hiện trường lao động của đội 17, P, Trại giam X, Cục C1-Bộ C2, thuộc xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai); Trần Minh H2 (là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam X) đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (cái kéo) cắt, rạch trúng vào ngực trái, bắp tay phải và vùng sau cổ của phạm nhân Phạm Hoài P gây thương tích. Theo kết luận giám định thì tỷ lệ tổn thương cơ thể của phạm nhân Phạm Hoài P là 09% (chín phần trăm).
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Minh H2 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”; bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm nguy hiểm, nên thuộc trường hợp định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý giam giữ của Nhà nước và quyền được bảo hộ về sức khỏe của người khác. Bị cáo đang chấp hành án phạt tù nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công, gây thương tích tại nhiều vị trí trên cơ thể bị hại. Hành vi này thể hiện tính chất côn đồ, thái độ coi thường pháp luật và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường cải tạo tại trại giam. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tổng hợp hình phạt: Tính đến ngày 21/4/2025, bị cáo đã chấp hành án phạt 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2022/HS-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh được: 03 năm 01 ngày tù; Án còn lại là 03 năm 11 tháng 29 ngày tù. Như vậy, tính đến ngày 28/01/2026, bị cáo Trần Minh H2 đã chấp hành bản án trên được: 03 năm 09 tháng 8 ngày; Án còn lại là 03 năm 02 tháng 22 ngày tù. Do đó, cần tổng hợp với phần hình phạt còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm số 328 nêu trên.
Xử lý vật chứng: 01 (một) cái kéo (dụng cụ lao động) có kích thước dài 16cm (cán bằng nhựa có hai màu đỏ và đen, dài 11cm; lưỡi kéo bằng kim loại, có chiều dài 05cm) là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Hoài P không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không xem xét, giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Đồng Nai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, cũng như nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Trần Minh H2 thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55, khoản 2 Điều 56; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017-2025); Căn cứ các điều 106, 260, 268, 269, 298, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh H2 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
2. Xử phạt bị cáo Trần Minh H2: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Tổng hợp với phần hình phạt 03 (Ba năm) năm 02 (Hai) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù (tính đến ngày 28/01/2026) chưa chấp hành theo Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2022/HS-ST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tội “Cố ý gây thương tích”. Buộc bị cáo Trần Minh H2 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 06 (Sáu) năm 08 (T3) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2026.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái kéo (dụng cụ lao động) có kích thước dài 16cm (cán bằng nhựa có hai màu đỏ và đen, dài 11cm; lưỡi kéo bằng kim loại, có chiều dài 05cm).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/12/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6- Đồng Nai)
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Minh H2 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Đồng Nai; - VKSND Tỉnh Đồng Nai; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai; - VKSND KV6-Đồng Nai; - Phòng THADS KV6-Đồng Nai; - Trại tạm giam; - Bị cáo; - Đương sự; - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu hồ sơ; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Sương |