- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quang T - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Quang T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – TUYÊN QUANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2026/HS-ST Ngày 21 tháng 05 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Trung
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hứa Đức Hạnh
2. Ông Lăng Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đánh – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang: Ông Hoàng Văn Thanh, bà Phạm Thị Mai Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2026/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 19/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Đặng Quang T; Sinh ngày 11 tháng 04 năm 2006, tại xã L, tỉnh Tuyên Quang; CCCD số 002206006714 cấp ngày 09/7/2025, nơi cấp Bộ Công an; Nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Chòi S (đã chết) và bà Triệu Mùi N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/10/2025. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Quang T: Ông Hoàng Ngọc C; Trợ giúp viên pháp lý –Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Phùng Tà S1, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Đặng Quang H, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
+ Cu Mạnh Q, sinh ngày 29/4/2010; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Đặng Thanh S2, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Triệu Văn C1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Cu Mạnh H1, sinh ngày 27/8/2008; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Cu Mạnh T1, sinh ngày 23/8/2011; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Đặng Thúy M, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Đặng Lao C2, sinh năm 2009; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Đặng Lao C2: Chị Phàn Thị C3, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Cu Mạnh Q, Cu Mạnh H1, Cu Mạnh T1: Ông Cu Seo D, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 20/7/2025, bị cáo Đặng Quang T ăn cơm, uống rượu tại nhà Đặng Quang H sinh năm 2004 (thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang là anh trai ruột của T) cùng với Đặng Thúy M, sinh năm 2007 (là cháu của T), Đặng Lao C2, sinh năm 2008 (là cháu của T) tất cả cùng trú tại thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Phùng Tà S1, sinh năm 2006 là người ở cùng thôn đến nhà Đặng Quang H để đón Đặng Thúy M. Khi S1 đi đến nơi thì mọi người đã ăn, uống xong, lúc này H nói “thôi mấy anh em mình đi uống bia, hôm nay M mời, mấy hôm nữa anh em mình mời lại”, khi H nói vậy thì mọi người đều đồng ý và cùng nhau đi... Sày điều khiển xe mô tô BKS 23D1- 259.36 của mình chở M, còn T đi cùng C2, H rủ thêm Đặng Thanh S2, sinh năm 2006 là người cùng thôn đi cùng. Trên đường đi xe của T và C2 bị hỏng nên cả hai dừng lại sửa xe còn mọi người đi trước. Khi đến đoạn đường bê tông thuộc khu vực thôn X, xã L do không thấy xe của T và C2 đi sau nên S1, M, H và S2 dừng xe lại cạnh đường để đợi T và C2, trong lúc dừng lại đợi T và C2 thì giữa S2 và S1 đã xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau, S1 huých ngực về phía S2 thách thức nên S2 dùng tay phải tát 01 (một) phát trúng vào vùng mặt bên trái của S1, sau đó S1 mở cốp xe máy của mình lấy 01 (một) con dao inox có gắn cán bằng gỗ, loại dao một lưỡi, dài 22 cm ra để đe dọa S2. Sau khi sửa xe xong, T và C2 tiếp tục đi thì đi đến vị trí mọi người đang đứng đợi thì thấy S1 và S2 xảy ra mâu thuẫn, T hỏi “sao lại cãi nhau?”, S1 trên tay phải cầm con dao inox dấu dao vào cổ tay áo, dọc theo cẳng tay, S1 vẫn huých vai vào phía người S2 đồng thời nói “giỏi mày cứ đánh đi, mày thích như nào?”. Lúc này anh Triệu Văn C1 đi uống rượu về thấy đông người cãi nhau dừng xe lại can ngăn, anh C1 rủ S2 đi về nhưng S2 không nghe nên C1 bật đèn xin nhan xe lên để soi sáng đồng thời ngồi trên xe mô tô và chứng kiến việc S1 và S2 vẫn lời qua tiếng lại thách thức nhau. Ngay sau đó có nhóm thanh niên gồm Cu Mạnh H1, sinh năm 2007, Cu Mạnh T1, sinh năm 2010 và Cu Mạnh Q, sinh năm 2011 cùng trú tại thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang và 02 thanh niên khác nữa (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) điều khiển xe máy đi ăn đêm về qua thấy S1 và S2 cãi chửi nhau nên đã dừng lại xem. Sau khi dừng xe, nhóm của Cu Mạnh H1 đến can ngăn không cho S1 và S2 chửi nhau nữa nhưng không được. Trong lúc S1 và S2 xảy ra cãi, chửi, thách thức nhau, T đi đến vị trí của S2 và S1 để can ngăn nhưng S2 và S1 vẫn tiếp tục gây gổ, T nhìn thấy S1 trong tay có cầm dao và S2, S1 vẫn tiếp tục cự cãi, thách thức nhau nên T lao vào dùng chân trái đạp về phía Sày và sượt qua mông của S1 làm S1 bị đẩy về phía trước, lúc đó T nhìn thấy Cu Mạnh Q đứng gần đó đang cầm gậy ba khúc trên tay (gậy Q đặt mua trên mạng với mục đích khi đi buổi tối thì mang theo để phòng thân) thì T đi đến chỗ Q và nói “cho anh mượn tí” rồi bất ngờ T giật lấy gậy ba khúc từ tay Q đi về phía Sày, lúc này S1 trong tư thế quay lưng lại với T, khi đến vị trí cách Sày 1,0m, tay phải T cầm gậy vung từ trước ra sau, vụt 01 (một) phát theo hướng từ sau ra trước, hướng gậy song song với mặt đường (lực đánh vừa phải) trúng vào vị trí bên trái lưng của S1 (vị trí cách thắt lưng 18cm). Sau khi bị đánh S1 quay người lùi lại khoảng 0,6m, T bước lên 01 (một)bước khoảng 0,6m (so với vị trí đứng vụt gậy ban đầu) tay phải vung gậy từ trước ra sau, vụt 01 (một) phát theo chiều hướng từ sau ra trước, hơi chếch từ trên xuống dưới (với lực đánh vừa phải), lúc này S1 đã quay người sang phía bên trái đồng thời giơ cánh tay trái ra đỡ, gậy của T vụt trúng vào phần ngoài cẳng tay trái và vai trái của S1. Sày bị đau nên bỏ chạy được khoảng 1,1m, do trời tối không nhìn thấy gì T giơ gậy lên theo hướng từ trước ra sau, vụt 01 (một) phát từ trên xuống dưới, từ sau ra trước về phía Sày làm đuôi gậy trúng vào thái dương đỉnh trái của S1 (khoảng cách giữa T khi dùng gậy vụt Sày là 1,2m), lúc T đánh Sày phát thứ 03 (ba) thì H đứng cạnh nên đã kéo T ra chỗ khác, gậy ba khúc rơi xuống đất về phía Sày, do bị đánh đau nên S1 đã bỏ chạy xuống nhà bán hàng của ông Phàn Phụ C4, sinh năm 1975, trú tại thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang, trên đường chạy S1 đã vứt con dao ở cạnh đường. H nhặt lấy gậy ba khúc và đập vào đầu xe, đèn xi nhan và cuối xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn đen trắng biển kiểm soát 23D1-259.36 của Phùng Tà S1 làm biển kiểm soát bị rơi ra khỏi xe, sau đó H vứt gậy ba khúc ở cạnh xe máy. Sau khi S1 bị T đánh bỏ chạy đi thì cả nhóm còn lại giải tán, sau đó trên đường đi về đã cùng nhau đến nhà ông Phượng Quầy Q1, sinh năm 1968, trú tại thôn X, xã L để uống bia, S2 biết gậy ba khúc là của Q nên đã trả lại cho Q, trên đường về nhà Q đã ném chiếc gậy ở cạnh đường.
Sau khi bị đánh, Phùng Tà S1 chạy đến nhà ông Phàn Phụ C4, sinh năm 1975, tại thôn X, xã L nhưng do nhà ông C4 đóng cửa nên S1 đi nhờ xe mô tô của một người đi đường không quen biết đến nhà anh Lý Văn O, sinh năm 1987, tại thôn X, xã L sau đó S1 nhờ Lý Văn O gọi điện cho ông Lý Chòi S3, sinh năm 1970, trú tại thôn X, xã L để nhờ ông S3 đến đón. Khi ông S3 đến đã đưa S1 đến Trạm Y tế Đức X rửa vết thương rồi đưa S1 về nhà, sau đó ông S3 đi về nhà. Khoảng 10 giờ 00 phút sáng hôm sau (ngày 21/7/2025) ông S3 đến nhà S1 để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của S1 nhưng gọi S1 không thấy trả lời, lay S1 không dậy nên ông S3 thuê xe taxi đưa S1 đến Bệnh viện Đ cấp cứu. Phùng Tà Sày điều trị tại Bệnh viện Đ từ ngày 21/7/2025 đến ngày 30/7/2025 thì ra viện.
- Ngày 11/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ban hành quyết định trưng cầu giám định số: D13/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh T giám định tổn hại phần trăm sức khỏe của Phùng Tà S1. Tại Bản kết luận số 14A/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 14/8/2025, của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh T kết luận: (1) Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phùng Tà S1 tại thời điểm giám định là 38% (ba mươi tám phần trăm); (2) Cơ chế, vật gây thương tích: thương tích gây tụ máu dưới màng cứng, vỡ xương sọ thái dương trán trái và sẹo trán trái là do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Khuyết xương sọ, sẹo vùng trán đỉnh thái dương trái và sẹo vùng chẩm trái là do can thiệp y tế.
- Ngày 11/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ban hành quyết định trưng cầu giám định số: D12/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh T giám định vật gây thương tích đối với gậy ba khúc Cu Mạnh Q giao nộp. Tại Bản kết luận số 15A/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 18/8/2025, của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh T kết luận: Căn cứ vào kết quả khám giám định Vật gây thương tích được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T trưng cầu giám định gửi đến là một cây gậy baton (gậy rút 03 khúc), có tổng chiều dài 64cm, trọng lượng 560gram có khả năng gây ra các thương tích của Phùng Tà S1 đã được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án. Ngày 11/8/2025, chúng tôi tiếp nhận và khám giám định trên cơ thể cho Phùng Tà S1, sinh ngày 01/4/2006, trú tại thôn X, xã L, tỉnh Tuyên Quang. Tại kết luận số 14A/KLTTCT-TTGĐYK&PY chúng tôi xác định cơ chế gây thương tích tụ máu dưới màng cứng thuỳ thái dương trán đỉnh trái; vỡ xương sọ thái dương trán trái; khuyết xương sọ vùng trán đỉnh thái dương trái của Phùng Tà S1 là do tác động của vật tày gây nên. Một cây gậy baton (gậy rút 03 khúc) nêu trên là vật tày, phù hợp với cơ chế gây ra các thương tích như trên đối với Phùng Tà S1; Tuy nhiên chúng tôi không xác định chiếc gậy baton có ba khúc dạng ống tròn bằng kim loại nêu trên có phải là vật gây ra thương tích đối với Phùng Tà S1 không, vì khi giám định ngày 11/8/2025 vết sưng nề thái dương đỉnh trái của Phùng Tà S1 được ghi nhận trong bệnh án đã khỏi nên không thể xác định được đặc điểm, kích thước của vật gây thương tích. Để xác định chính xác cây gậy baton có ba khúc dạng ống tròn bằng kim loại có phải là vật gây ra các thương tích đối với Phùng Tà S1 không? Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T giám định dấu vết cơ học, sinh học trên cây gậy baton có ba khúc dạng ống tròn bằng kim loại.
- Ngày 22/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ban hành quyết định trưng cầu giám định số: D20/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định Kỹ thuật hình sự.
- Ngày 29/8/2025, Phòng K Công an tỉnh T ra Bản kết luận số 1069/KL-KTHS, kết luận: 01 (một) đoạn gậy rút ba khúc dạng ống tròn, đầu gậy có chữ “CERTIFIELD”, khúc tay cầm bằng kim loại có bọc nhựa màu đen, 02(hai) khúc thân gậy bằng kim loại màu vàng (ký hiệu A) là dùi cui kim loại, thuộc danh mục công cụ hỗ trợ được quy định tại phụ lục 4, danh mục công cụ hỗ trợ ban hành kèm theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C7.
- Ngày 21/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ban hành yêu cầu định giá tài sản số: D76/YC-VPCQCSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, không gắn biển kiểm soát tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 20/7/2025.Tại Kết luận định giá tài sản số: 38/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang, kết luận: tổng giá trị tài sản (bao gồm các bộ phận: cụm đèn pha phía trước, cánh yếm ngoài bên phải, cụm đèn hậu, dè chắn bùn phía sau, vỏ nhựa bên ngoài đồng hồ công tơ mét, sửa chữa gắn nối mặt nạ và cụm đèn) bị thiệt hại là 1.580.000đồng (một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).
- Theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì dùi cui kim loại (gậy ba khúc) được coi là hung khí nguy hiểm. Vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã thu giữ vật chứng là:
- 01 (một) gậy baton kim loại, có ba khúc dạng ống tròn, đầu gậy có chạm khắc chữ C5, khúc tay cầm bằng kim loại có bọc nhựa màu đen, hai khúc thân bằng kim loại màu vàng, chiều dài 64cm khi gấp gọn 22cm đã qua sử dụng. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh T.
- 01 (một) con dao inox màu trắng, loại một lưỡi dài 22cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu, lưỡi dao bám dính đất, rỉ sét đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius màu đen trắng, không có biển kiểm soát, ốp chắn bùn phía sau hư hỏng hoàn toàn, vỏ đèn hậu bị vỡ nhìn thấy bóng đèn, cánh yếm bên phải bị vỡ, bàn thơ và cụm đèn pha trước bị vỡ, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số 23D1-259.36 đã qua sử dụng; 01 (một) kính mắt trong tình trạng bị gãy, vỡ và 01 (một) thanh kim loại hình chữ thập.
Ngày 26/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ban hành Quyết xử lý vật chứng số: D393/QĐ-VPCQCSĐT trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Phùng Tà S1. Cáo trạng số 16/CT-VKSKV5 ngày 10/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang truy tố bị cáo Đặng Quang T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đặng Quang T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ chứng minh do cơ quan điều tra thu thập được về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo đã thực hiện cũng như các tài liệu, chứng cứ thu giữ được.
- Bị hại Phùng Tà S1 nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, trong đó gia đình bị cáo đã bồi thường 31.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 19.000.000 đồng và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo nhất trí tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 19.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng truy tố đã nêu. Đề nghị:
+ Tuyên bố bị cáo Đặng Quang T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Quang T từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2025.
+ Về dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 19.000.000 đồng. + Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gậy baton kim loại, có ba khúc dạng ống tròn, đầu gậy có chạm khắc chữ C5, khúc tay cầm bằng kim loại có bọc nhựa màu đen, hai khúc thân bằng kim loại màu vàng, chiều dài 64cm, khi gấp gọn 22cm, đã qua sử dụng.
+ Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Ý kiến bào chữa của Người bào chữa cho bị cáo:
+ Về tội danh: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát;
+ Trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt là 05 (năm) năm tù.
+ Bồi thường thiệt hại: Đề nghị công nhận thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại, bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 19.000.000 đồng.
+ Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo.
- Bị cáo nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì thêm, không có ý kiến tranh luận.
- Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
- Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên đối với bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nhĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên không có ý kiến đối đáp gì thêm.
Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải, bị cáo xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vụ án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cu Mạnh Q, những người làm chứng Đặng Thanh S2, Triệu Văn C1, Cu Mạnh H1, Cu Mạnh T1, Đặng Thúy M, Đặng Lao C2; Người đại diện hợp pháp của Đặng Lao C2: Chị Phàn Thị C3; Người đại diện hợp pháp của Cu Mạnh Q, Cu Mạnh H1, Cu Mạnh T1: Ông Cu Seo D vắng mặt. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cu Mạnh Q có đơn xin xét xử vắng mặt và quan điểm đề nghị giải quyết về nội dung liên quan đến mình; những người làm chứng vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cu Mạnh Q, những người làm chứng Đặng Thanh S2, Triệu Văn C1, Cu Mạnh H1, Cu Mạnh T1, Đặng Thúy M, Đặng Lao C2, Người đại diện hợp pháp của Đặng Lao C2: Chị Phàn Thị C3, Người đại diện hợp pháp của Cu Mạnh Q, Cu Mạnh H1, Cu Mạnh T1: Ông Cu Seo D không ảnh hưởng đến nội dung vụ án và quá trình xét xử. Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Quang T: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận khoảng hơn 21 giờ 30 phút ngày 20/7/2025, do thấy Phùng Tà S1 mâu thuẫn, cãi chửi, thách thức nhau với Đặng Thanh S2, Phùng Tà S1 cầm dao trong lúc hai bên gây gổ, thách thức nhau nên bị cáo đến can ngăn mâu thuẫn giữa S1 và S2, do không can ngăn được, S1 và S2 vẫn tiếp tục thách thức nhau nên bị cáo đã dùng chân trái đạp về phía Sày, sượt qua mông của S1 làm S1 bị đẩy về phía trước, sau đó bị cáo giật lấy gậy ba khúc trên tay Cu Mạnh Q rồi đi về phía Sày vụt liên tiếp 03 phát về phía Sày; phát thứ nhất Sày trong tư thế quay lưng lại với bị cáo, bị cáo tiến đến vị trí cách Sày 1,0m, dùng tay phải cầm gậy vung từ trước ra sau, rồi vụt theo hướng từ sau ra trước, hướng gậy song song với mặt đường (lực đánh vừa phải) trúng vào vị trí bên trái lưng của S1 (vị trí cách thắt lưng 18cm); phát thứ hai, sau khi bị đánh phát thứ nhất Sày quay người lùi lại khoảng 0,6m, bị cáo bước về phía Sày khoảng 0,6m (so với vị trí đứng vụt gậy ban đầu) tay phải vung gậy từ trước ra sau, rồi vụt theo chiều hướng từ sau ra trước, hơi chếch từ trên xuống dưới (với lực đánh vừa phải), lúc này S1 đã quay người sang phía bên trái đồng thời giơ cánh tay trái ra đỡ, gậy của T vụt trúng vào phần ngoài cẳng tay trái và vai trái của S1. Sày bị đau nên bỏ chạy; Phát thứ ba, sau khi bị vụt phát thứ hai Sày bỏ chạy được khoảng 1,1m, bị cáo do trời tối không nhìn thấy rõ Sày thì tiếp tục giơ gậy lên theo hướng từ trước ra sau, vụt từ trên xuống dưới, từ sau ra trước hướng về phía Sày làm đuôi gậy baton trúng vào thái dương đỉnh trái của Sày lúc này khoảng cách giữa bị cáo và S1 là 1,2m, ngay sau đó Đặng Quang H kéo bị cáo ra không cho đánh nữa còn bị hại S1 bỏ chạy xuống nhà bán hàng của ông Phàn Phụ C4 sau đó đi nhờ xe của một người không quen biết đến nhà anh Lý Văn O, nhờ ông O gọi điện cho ông Lý Chòi S3 đến đón đưa S1 đến Trạm Y tế Đ1 rửa vết thương rồi đưa S1 về nhà. Đến 10 giờ 00 phút, ngày 21/7/2025 S1 được ông S3 đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu. Hậu quả tỷ lệ tổn thương cơ thể do bị cáo dùng gậy baton là hung khí nguy hiểm gây ra cho Phùng Tà S1 là 38%. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang truy tố bị cáo với hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần chi phí điều trị cho bị hại là 31.000.000 đồng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu, ngoài lần phạm tội này thì bị cáo chấp hành tốt pháp luật tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thấy được: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phạm tội do lỗi cố ý. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, kiến thức pháp luật hạn chế, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị hại tại quá trình điều tra và tại phiên tòa xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ phần nào cho bị cáo.
Về dân sự: Bị cáo và bị hại tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại do bị cáo đã gây thương tích cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật, cần ghi nhận thỏa thuận đó theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gậy baton kim loại, có ba khúc dạng ống tròn, đầu gạy có chạm khắc chữ C6, khúc tay cầm bằng kim loại có bọc nhựa màu đen, hai khúc thân bằng kim loại màu vàng, chiều dài 64cm, khi gấp gọn 22cm, đã qua sử dụng. [9] - Đối với Đặng Quang H có hành vi sử dụng 01 (một) dùi cui kim loại: loại ba khúc, khúc tay cầm bằng kim loại có bọc nhựa màu đen, hai khúc thân bằng kim loại màu vàng có chiều dài khi thu gọn là 22cm, tổng chiều dài là 64cm để đập phá xe mô tô của Phùng Tà S1, hậu quả thiệt hại của xe mô tô là 1.580.000 đồng (một triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Tại biên bản xác minh ngày 30/7/2025 thể hiện địa điểm diễn ra vụ việc là khu vực không có dân cư sinh sống, thời gian vào khoảng nửa đêm, không ảnh hưởng tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Về nhân thân Đặng Quang H chưa vi phạm pháp luật lần nào, do đó hành vi của Đặng Quang H không đủ yếu tố cấu thành tội: Cố ý làm hư hỏng tài sản, theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự. Ngày 22/01/2026, Công an xã L, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPVPHC đối với Đặng Quang H theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số: 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức xử phạt: phạt tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). [10]- Đối với Cu Mạnh Q có hành vi: Đặt mua gậy ba khúc trên mạng xã hội với mục đích để phòng thân sau đó đã mang theo người. Giữa Q và bị can Đặng Quang T không có sự bàn bạc với nhau từ trước về việc mua gậy ba khúc cũng như việc sử dụng gậy ba khúc để đánh Phùng Tà S1. Về nhân thân Q chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến mua bán, tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ nên không cấu thành tội: Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ, theo quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự. Ngày 22/01/2026, Công an xã L, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPVPHC đối với Cu Mạnh Q theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 11 Nghị định số: 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, tuy nhiên do Cu Mạnh Q chưa đủ 16 tuổi nên hình thức xử phạt là cảnh cáo. [11]- Đối với Đặng Thanh S2 có hành vi tát vào mặt Phùng Tà S1, tuy nhiên không để lại thương tích. Ngày 22/01/2026, Công an xã L, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPVPHC đối với Đặng Thanh S2 theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số: 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức xử phạt: phạt tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). [12] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo đang bị tạm giam: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án, thời hạn tạm giam bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án. [13] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin được miễn toàn bộ án phí, nên chấp nhận cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
- Tuyên bố bị cáo Đặng Quang T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Quang T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/10/2025.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Đặng Quang T để đảm bảo thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gậy baton kim loại, có ba khúc dạng ống tròn, đầu gậy có chạm khắc chữ C5, khúc tay cầm bằng kim loại có bọc nhựa màu đen, hai khúc thân bằng kim loại màu vàng, chiều dài 64cm, khi gấp gọn 22cm, đã qua sử dụng.
Vật chứng được bàn giao tại biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5-Tuyên Quang ngày 26/02/2026.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Đặng Quang T và bị hại Phùng Tà S1 như sau: Bị cáo Đặng Quang T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Phùng Tà S1 số tiền 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo Đặng Quang T, bị hại Phùng Tà S1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Quang H có quyền kháng cáo về nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cu Mạnh Q, người đại diện hợp pháp của Cu Mạnh Q có quyền kháng cáo về nội dung liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Phòng PV 06, PC 10 Công an tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 5-Tuyên Quang; - CQ CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Cơ quan THADS tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã Liên Hiệp, tỉnh TQ; - Bị cáo, bị hại, người có QLNV liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Hoàng Trung |