vanban.org

Bản án 19/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Điều luật áp dụng và mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K mức án 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân K - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HS-ST
Ngày 15 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Ri

2. Bà Nguyễn Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2026/QĐXXST-HS ngày 03/4/2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân K, sinh ngày 29/8/1990 tại tỉnh Hà Tĩnh

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12.

Nơi cư trú: thôn F, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: số nhà B, đường Đ, khu phố Đ, phường D, thành phố Hồ Chí Minh.

Cha: Nguyễn Quang T, sinh năm: 1969 (còn sống); Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1970 (còn sống); Bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1993; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1990; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 24/4/2017 bị Công an phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vị Đánh bạc, bị cáo đã đóng phạt và đã được xóa tiền sự.

Bị cáo Nguyễn Xuân K bị tạm giữ tại Phân trại tạm giam L, thuộc trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh Đồng Nai từ ngày 07/01/2026 đến ngày 16/01/2026 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; Nơi thường trú: thôn F, xã H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: Số nhà B, đường Đ, khu phố Đ, phường D, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 07/01/2026, khi đang ở nhà trọ tại phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Xuân K nảy sinh ý định đi mua pháo hoa nổ về cất giấu tại nhà để sử dụng vào dịp tết Nguyên Đán 2026. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô Vision, màu đỏ, biển số: 38P1-470.14 đi một mình từ nhà trọ đến khu vực xã T, tỉnh Đồng Nai tìm mua pháo hoa nổ về sử dụng. Khi đến khu vực ấp B, xã T, K đi quanh khu vực để dò hỏi mua pháo hoa nổ. Lúc này, K gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, đứng một mình, cùng xe Honda (xe không có biển số, không có yếm chắn gió, không rõ nhãn hiệu), K điều khiển xe đến gần người đàn ông đó và hỏi:“chú có biết ai bán pháo hoa nổ không”, người đàn ông trả lời “không”. Sau đó K quay xe đi vừa nổ máy xe chuẩn bị di chuyển thì người đàn ông gọi lại, hỏi mua pháo gì thì K trả lời mua pháo nổ, người đàn ông tiếp tục hỏi: “lấy nhiều không”, K nói “mười cục” (10 dàn pháo hoa nổ) và hỏi giá thì người đàn ông báo giá: 500.000 đồng/1 dàn, K đồng ý. Người đàn ông nói K chờ rồi điều khiển xe đi khoảng 15 phút, quay lại nói K chạy khoảng 100m, trong bụi cỏ ven đường sẽ thấy pháo hoa nổ. K đi theo hướng dẫn của người đàn ông, thì thấy trong bụi cỏ ven đường có 01 (một) túi nilon màu đỏ và 01 (một) balo màu xanh - đen được đậy bên trên một bao xác rắn màu vàng thì dừng xe lại, K kiểm tra thấy trong balo có 08 khối hình hộp, có kích thước (18x18x10)cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, có dòng chữ và số “SHINING NIGHT 49 SHOT XL4908” (Pháo hoa nổ) nên cầm bỏ lên phía trước xe, 01 túi nilon màu đỏ bên trong có 02 khối hình hộp, có kích thước (18x18x10)cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, có dòng chữ và số “SHINING NIGHT 49 SHOT XL4908” (pháo hoa nổ) nên giấu vào trong cốp xe mô tô của K rồi dùng bao xác rắn màu vàng có sẵn trùm. Sau đó, K đưa cho người đàn ông số tiền 5.000.000 đồng, rồi điều khiển xe mô tô để quay về lại nhà trọ. Khi điều khiển xe đến ấp H, xã L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã L phối hợp với Đội cảnh sát giao thông đường bộ số C, phòng C1 công an tỉnh Đồng Nai kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang

Quá trình làm việc, bị cáo Nguyễn Xuân K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, do muốn sử dụng pháo hoa nổ dịp tết nên K đã thực hiện hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số: 127/KL-KTHS ngày 10/01/2026 của Phòng KTHS Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: 10 khối hình hộp ký hiệu là M được niêm phong gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ); khi đốt bay lên cao, nổ rít, và phát ra ánh sáng màu, có tổng khối lượng là 16,35kg (H lại sau giám định 06 khối hình hộp bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ có tổng trọng lượng là: 9,85 kg)

Vật chứng, đồ vật thu giữ:

- 10 khối hộp hình chữ nhật kích thước (18x18x10cm), dán giấy nhiều màu sắc, có chữ “SHINING NIGHT 49 SHOTS XL4908” (niêm phong ký hiệu M);

- 01 xe mô tô Vision màu đỏ, biển kiểm soát: 38P1-470.14; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 023122;

- 01 balo màu đen xanh; 01 túi nilon màu đỏ;

- 01 bao loại xác rắn màu vàng;

- 01 ĐTDĐ màu đen hiệu REDMI bên trong chứa 01 sim Viettel số: 0354378036;

Xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô Vision màu đỏ, biển số: 38P1-470.14, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 023122 của bà Nguyễn Thị L là vợ của Nguyễn Xuân K cho K mượn sử dụng để đi làm, bà L không biết việc K sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đồng Nai đã xử lý vật chứng trả cho bà L.

- 01 thùng giấy niêm phong (M1) hoàn lại sau giám định là pháo hoa nổ, 01 ba lô màu đen xanh, 01 túi nilon màu đỏ, 01 bao xác rắn màu vàng là vật chứng của vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu REDMI bên trong chứa 01 sim Viettel số: 0354378036 là điện thoại của K không liên quan đến vụ án, đề nghị tuyên trả cho bị cáo.

- Trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh.

Cáo trạng số: 06/CT-VKSĐNI-KV ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Xuân K về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Xử lý vật chứng vụ án:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 thùng giấy niêm phong (M1) hoàn lại sau giám định bên trong chứa pháo hoa nổ có trọng lượng 9,85 kg, là hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành trên thị trường Việt Nam, 01 ba lô màu đen xanh, 01 túi nilon màu đỏ, 01 bao xác rắn màu vàng không còn giá trị sử dụng.

- Đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân K: 01 điện thoại di động màu đen hiệu REDMI bên trong chứa 01 sim Viettel số: 0354378036 là điện thoại của K không liên quan đến vụ án.

Các vật chứng khác đã được cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý đúng quy định nên đề nghị không tiếp tục xử lý.

Tranh luận: Bị cáo không tranh luận.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì và không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Đ; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14, tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như sau:

Vào ngày 07/01/2026, Nguyễn Xuân K đã có hành vi mua 16,35 kg pháo hoa nổ (10 khối hình hộp hình chữ nhật kích thước (18x18x10cm)) về cất giấu tại nhà trọ của K tại số nhà B, đường Đ, khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán năm 2026. Khi K điều khiển xe mô tô chở theo 16,35 kg pháo nổ trên đến khu vực tại ấp H, xã L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ phương tiện và tang vật.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Xuân K phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hiện trường, Biên bản niêm phong đồ vật và vật chứng thu giữ. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” nên Cáo trạng số: 06/CT-VKSĐNI-KV ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Xuân K về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

“Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…………………………………………………………

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

Đối với người đàn ông bán pháo cho Nguyễn Xuân K tại khu vực xã T, tỉnh Đồng Nai. Quá trình điều tra, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Thị L (vợ của Nguyễn Xuân K) cho K mượn xe mô tô nhãn hiệu Vision màu đỏ, biển kiểm soát: 38P1-470.14 nhưng L không biết việc K sử dụng xe trên làm phương tiện phạm tội nên không xem xét xử lý.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân K thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì sở thích cá nhân là muốn sử dụng pháo hoa nổ dịp tết nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo hoa nổ nêu trên là hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành trên thị trường Việt Nam do bị cáo Nguyễn Xuân K thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Ngày 24/4/2017 bị Công an phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vị Đánh bạc, bị cáo đã đóng phạt và đã được xóa tiền sự. Bị cáo cư trú nhưng không thực hiện nghĩa vụ đăng ký cư trú theo quy định.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng như trên là đúng quy định.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân K phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” và đề nghị mức án đối với bị cáo như bản luận tội tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật, tình tiết vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

2. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K mức án 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2026.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân K trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 thùng giấy niêm phong (M1) hoàn lại sau giám định bên trong chứa pháo hoa nổ có trọng lượng 9,85 kg, là hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành trên thị trường Việt Nam; 01 ba lô màu đen xanh; 01 túi nilon màu đỏ; 01 bao xác rắn màu vàng không còn giá trị sử dụng.

- Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân K: 01 điện thoại di động màu đen hiệu REDMI bên trong chứa 01 sim Viettel số: 0354378036 là điện thoại của K không liên quan đến vụ án.

(Theo mô tả như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số NK 2026/0034 ngày 13/4/2026 giữa Cơ quan điều tra tỉnh Đồng Nai và phòng Thi hành án dân sự khu vực 14, tỉnh Đồng Nai; Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSĐNI-KV ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai).

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ sơ thẩm;

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ