- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Đ - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2026/HS-ST Ngày 12/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Kiều Quang Dự
Hội thẩm nhân dân:
Ông: Ngô Trung Tính: Nghề nghiêp giáo viên hưu trí
Bà: Bùi Thị Quỳnh; Nghề nghiệp cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Thường - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 12/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2026/TLST-HS ngày 23/01/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2026/QĐXXST-HS ngày 26/02/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 27/12/2006; tại Lương Sơn - Phú Thọ; Căn cước số: 017206004365; Nơi cư trú: Thôn Đồng B, xã Lương S, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/4/2023, bị Công an xã Cư Yên, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPVPHC về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền, mức phạt là 1.250.000 đồng. Đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/8/2025 đến ngày 25/8/2025 được tại ngoại có mặt.
- Bị hại:
+ Cháu Lê Anh D, sinh ngày 17/9/2010; người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 (mẹ đẻ) – Vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn Yên Tr, xã Trần Ph, thành phố Hà Nội.
+ Cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 22/10/2010; người đại diện hợp pháp anh Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1980 (bố đẻ) – Vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn Yên Tr, xã Trần Ph, thành phố Hà Nội.
+ Cháu Nguyễn Duy Th, sinh ngày 12/9/2009; người đại diện hợp pháp chị Trần Thu H, sinh năm 1977 (mẹ đẻ) – Vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn Yên Tr, xã Trần Ph, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Cháu Nguyễn Minh Ch, sinh ngày 18/9/2010; người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (mẹ đẻ) – Có mặt
Cùng trú tại: Xóm Gò M, xã Liên S, tỉnh Phú Thọ.
+ Cháu Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 14/6/2010; người đại diện hợp pháp anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986 (bố đẻ) – Vắng mặt
Cùng trú tại: Thôn Đồng Ch, xã Lương S, tỉnh Phú Thọ.
+ Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985 – Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn Đồng Ch, xã Lương S, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/8/2025, Nguyễn Tiến Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner X, màu đen, BKS: 28FS-022.01 của anh Nguyễn Việt A (là anh trai của Đ), chở Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 14/6/2010 (thời điểm này Đ 15 tuổi, 01 tháng, 29 ngày) và Nguyễn Minh Ch, sinh ngày 18/9/2010 (thời điểm này Ch 14 tuổi, 10 tháng, 26 ngày) đến tắm suối tại thôn Làng Hang, xã Liên Sơn, tỉnh Phú Thọ. Khi đến suối, Đ dựng xe máy ở phía dưới, sau đó cùng Đ1 và Ch đi bộ lên phía trên để tắm, trên đường đi cả ba đều thấy có khoảng 04 chiếc xe bao gồm có cả xe mô tô và xe máy điện dựng ở bên bờ suối, thấy vậy Đ có bảo với Đ1 và Ch là “có xe máy kia, xuống móc cốp xem có đồ gì không”, Ch liền bảo “thôi, có người kia kìa", nhìn xung quanh thấy có khoảng 05 đến 06 người đang ở chân suối nên cả ba tiếp tục lên khu vực đầu nguồn để tắm
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì Đ rủ Ch và Đ1 đi xuống chỗ mấy xe máy vừa nãy để trộm cắp tài sản, Ch và Đ1 đồng ý. Khi đến gần chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ, BKS: 33L8 - 1963, chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị T (xe mô tô do cháu Lê Anh D, con đẻ của chị T điều khiển chở bạn đi tắm suối), Đ dùng tay bật cốp lên để khoảng trống có thể đưa tay vào bên trong cốp, còn Đ dùng tay móc vào bên trong cốp xe lấy được 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng Gold (là điện thoại của Lê Anh D). Sau đó, Đ tiếp tục nhấc cốp xe bên cạnh có nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh tím than, BKS: 29T2-106.36, chủ sở hữu là chị Phan Ngọc Nh (xe mô tô do cháu Nguyễn Duy N, con đẻ chị Nh điều khiển chở bạn đi tắm suối), Đ thò tay vào cốp lấy được 01 điện thoại Iphone XS màu vàng Gold (là điện thoại của Nguyễn Anh T) và 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xám (là điện thoại của Nguyễn Duy Th). Trong lúc Đ và Đ1 lấy trộm điện thoại thì Ch đứng để cảnh giới. Sau khi lấy trộm được 03 chiếc điện thoại trên, Đ điều khiển xe mô tô BKS: 28FS-022.01 chở Đ1 và Ch xuống cửa hàng điện thoại Ngọc L tại khu Đồi S thuộc thôn Quyền Ch, xã Cao D, tỉnh Phú Thọ bán chiếc điện thoại Iphone 11 Promax cho anh Dương Tuấn L với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), Đ là người cầm tiền, Đ chia cho Đ1 và Ch mỗi người 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), còn Đ cầm 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Sau đó, cả nhóm đi về nhà văn hóa thôn Đồng Chanh B, xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ để dò mật khẩu hai chiếc điện thoại còn lại, Ch được Đ và Đ1 cho một chiếc điện thoại. Ch dò được mật khẩu chiếc điện thoại Iphone XS là một dãy số gồm 06 số 0, còn chiếc Iphone 8 Plus thì không dò được mật khẩu nên Đ và Đ1 đã đập vỡ chiếc điện thoại này. Ch cầm điện thoại Iphone XS cả ba đi đến quán điện thoại Hưởng Ng ở khu vực chợ Bê Tông thuộc thôn Xuân L, xã Xuân M, thành phố Hà Nội để bán điện thoại cho anh Phạm Đức H với giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Ch chia cho Đ và Đ1 mỗi người 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), còn Ch cầm 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi có tiền, Ch nhờ Đ đưa đến cửa hàng điện thoại Huyền D thuộc thôn Xuân L, xã Xuân M, thành phố Hà Nội để mua điện thoại Iphone 7 Plus với giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Sau đó, cả ba đi về nhà. Số tiền trộm cắp được Đ đã tiêu sài cá nhân hết. Ngày 16/8/2025, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Nguyễn Tiến Đ đã đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ để đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ kết luận: Tổng giá trị 03 chiếc điện thoại bị trộm cắp tại xã Liên Sơn, tỉnh Phú Thọ tại thời điểm ngày 13/8/2025 là 16.200.000 đồng (Mười sáu triệu, hai trăm nghìn đồng chẵn), trong đó gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus trị giá 2.867.000₫ (Hai triệu tám trăm sáu mươi bày nghìn), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS trị giá 4.333.000₫ (Bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max trị giả 9.000.000₫ (Chín triệu đồng).
- Việc thu giữ đồ vật: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu vàng Gold, máy cũ, đã bị hư hỏng do Nguyễn Tiến Đ giao nộp ngày 16/8/2025; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu Gold, máy cũ, chưa kích hoạt sử dụng do Nguyễn Minh Ch giao nộp ngày 17/8/2025.
Cáo trạng số: 36/CT-VKSKV13 ngày 22/01/2026 củaViện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ truy tố Nguyễn Tiến Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Tiến Đ từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Buộc thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
- Vật chứng:
+ Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu Gold, máy cũ, chưa kích hoạt sử dụng do Nguyễn Minh Ch giao nộp ngày 17/8/2025.
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu vàng gold, máy cũ, đã bị hư hỏng không có giá trị, do Nguyễn Tiến Đ giao nộp, theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Đối với 02 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax và Iphone XS không thu hồi được nên không đề cập xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, bản thân không có tài sản nên không đề nghị áp dụng phạt tiền bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS.
- Ý kiến của bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng mà Đại diện viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo, bị cáo không có ý kiến tranh luận,bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, trái pháp luật mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự thủ tục, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Đ khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra vụ án, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. HĐXX xét thấy: Khoảng 15 giờ, ngày 13/8/2025, Đ1 rủ Ch và Đ đi xuống chỗ 04 chiếc xe bao gồm có cả xe mô tô và xe máy điện dựng ở bên bờ suối để trộm cắp tài sản, Ch và Đ đồng ý. Khi đến gần chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ, BKS: 33L8-1963, do cháu Lê Anh D điều khiển chở bạn đi tắm suối, Đ dùng tay bật cốp lên để Đ1 dùng tay móc vào bên trong cốp xe lấy được 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng Gold, điện thoại của Lê Anh D. Sau đó, Đ1 tiếp tục nhấc cốp xe bên cạnh có nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh tím than, BKS: 29T2 106.36, do cháu Nguyễn Duy N, điều khiển chở bạn đi tắm suối, Đ thò tay vào cốp lấy được 01 điện thoại Iphone XS màu vàng Gold, là điện thoại của Nguyễn Anh T và 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xám, là điện thoại của Nguyễn Duy Th.
Sau khi lấy trộm được 03 chiếc điện thoại trên, Đ điều khiển xe mô tô BKS: 28FS - 022.01 chở Đ1 và Ch xuống cửa hàng điện thoại Ngọc L tại khu Đồi Sim thuộc thôn Quyền Ch, xã Cao D, tỉnh Phú Thọ để bán chiếc điện thoại Iphone 11 Promax cho anh Dương Tuấn L với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), Đ chia cho Đ1 và Ch mỗi người 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), còn Đ cầm 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Sau đó, cả nhóm đi về nhà văn hóa thôn Đồng Chanh B, xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ để dò mật khẩu hai chiếc điện thoại còn lại. Đ và Đ1 cho Ch một chiếc điện thoại Iphone XS, sau đó Ch mở được mật khẩu điện thoại, còn chiếc Iphone 8 Plus thì không dò được mật khẩu nên Đ và Đ1 đã đập vỡ chiếc điện thoại này. Ch cầm điện thoại Iphone XS cả ba cùng đến quán điện thoại Hưởng Ng ở khu vực chợ Bê T thuộc thôn Xuân L, xã Xuân M, thành phố Hà Nội bán chiếc điện thoại cho Phạm Đức H giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Ch chia cho Đ và Đ1 mỗi người 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), còn Ch cầm 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi có tiền, Ch nhờ Đ đưa đến cửa hàng điện thoại Huyền D thuộc thôn Xuân L, xã Xuân M, thành phố Hà Nội để mua điện thoại Iphone 7 Plus với giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Tổng tài sản trộm cắp là 16.200.000 đồng (Mười sáu triệu, hai trăm nghìn đồng chẵn).
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến Đ lén lút trộm cắp 03 chiếc điện thoại trị giá 16.200.000 đồng (Mười sáu triệu, hai trăm nghìn đồng) của các cháu Lê Duy A, Nguyễn Duy N, Nguyễn Tuấn A đã phạm tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Tiến Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có hành vi trộm cắp 03 chiếc điện thoại trị giá 16.200.000 đồng (Mười sáu triệu, hai trăm nghìn đồng), tính chất hành vi của bị cáo đơn giản, bột phát mang tính chất vụ lợi, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an của địa phương.
Bị cáo Nguyễn Tiến Đ có 01 tình tiết tăng nặng phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra sau khi phạm tội bị cáo đầu thú; ông nội được tặng huân chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất bột phát, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ hướng dẫn của Nghị quyết số: 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xét bị cáo có đủ điều kiện áp dụng. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo, cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ được HĐXX chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo, quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét.
Vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu vàng Gold, máy cũ, đã bị hư hỏng do Nguyễn Tiến Đ giao nộp không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu Gold, máy cũ, chưa kích hoạt sử dụng do Nguyễn Minh Ch giao nộp là vật do phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước, theo quy định tại Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
Đối với các vấn đề khác: Nguyễn Minh Ch và Nguyễn Văn Đ1 khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/8/2025 do cả hai chưa đủ tổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo; Đối với anh Dương Tuấn L là người mua chiếc điện thoại Iphone 11 Promax và anh Phạm Văn H là người mua chiếc điện thoại Iphone XS của Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Minh Ch và Nguyễn Văn Đ1, do anh L và anh H không biết 02 chiếc điện thoại trên do phạm tôi mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với anh Li và anh H sau khi mua 02 chiếc điện thoại, sau đó đã bán cho người không quen biết, không biết tên tuổi địa, trong hồ sơ vụ án hai anh không có ý kiến yêu cầu gì đối với bị cáo Đ, hai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Ch và Đ.
Đối với anh Nguyễn Việt A là chủ chiếc xe Đ sử dụng, do Đạt tự ý lấy xe đi anh không biết nên cơ quan điều tra không thu giữ và đề cập xử lý chiếc xe trên là có căn cứ.
Đối với bà Hoàng Thị H là người đứng ra bồi thường cho các bị hại thay bị cáo Đ, bà không có ý kiến yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền đã bồi thường thay nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, người đại diện của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Buộc thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/3/2026.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho UBND xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) Chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu Gold, tình trạng đã hư hỏng nặng, không thể sử dụng được.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) Chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, máy cũ chưa kích hoạt sử dụng.
Hiện trạng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/02/2026 giữa, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ và Phòng thi hành án Dân sự Khu vực 13 - Phú Thọ.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại và người đại diện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND Khu vực 13 - Phú Thọ; - Cơ quan điều tra CA tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan thi hành án HS tỉnh Phú Thọ; - Phòng THADS Khu vực 13 – Phú Thọ; - UBND xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Quang Dự |