- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị Th và bị đơn Lã Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Lã Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2026/HNGĐ - ST Ngày 13-02-2026 V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Kiên.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2025/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2025 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1998; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường L, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lã Văn Đ, sinh năm 1995; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường L, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị kết hôn với anh Lã Văn Đ trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 08/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lý Thường Kiệt, tỉnh Ninh Bình). Sau ngày kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến khoảng tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và sự đồng cảm dẫn đến tình trạng vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề. Từ cuối năm 2024 vợ chồng chị sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng và không còn quan tâm gì đến cuộc sống, tình cảm của nhau nữa. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lã Văn Đ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Lã Văn Đ, đồng thời nhiều lần triệu tập anh Đ đến trụ sở Tòa án để giải quyết về việc chị Th xin ly hôn anh, nhưng anh Đ đều cố tình vắng mặt. Tòa án đã đến tận nhà anh Đ tại tổ dân phố D, phường L, tỉnh Ninh Bình để xác minh và được bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ anh Đ cung cấp: Anh Lã Văn Đ và chị Nguyễn Thị Th được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 08/02/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lý Thường Kiệt, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, anh Đ và chị Th chung sống cùng nhà với gia đình bà T. Anh chị chung sống hòa thuận đến khoảng gần cuối năm 2024 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra to tiếng, cãi vã nhau. Nguyên nhân là do tính cách của chị Th không hợp với anh Đ nên mâu thuẫn vợ chồng anh chị ngày càng căng thẳng nặng nề. Từ khoảng cuối năm 2024 chị Th đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và không quay về chung sống với anh Đ nữa. Bà T cũng khẳng định anh Đ làm ăn tự do và vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập của Tòa án đối với anh Đ, ngay sau mỗi lần nhận bà đều thông báo trực tiếp cho anh Đ và động viên anh Đ về giải quyết dứt điểm việc ly hôn. Tuy nhiên, anh Đ có đến Tòa án làm việc hay không thì bà không nắm được.
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình cũng đã tiến hành làm việc với chính quyền địa phương phường L, tỉnh Ninh Bình và được chính quyền địa phương cung cấp: Anh Lã Văn Đ là công dân có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố D, phường L, tỉnh Ninh Bình. Anh Đ và chị Nguyễn Thị Th kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/02/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lý Thường Kiệt, tỉnh Ninh Bình). Theo địa phương được biết sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến khoảng tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau. Từ cuối năm 2024 anh chị đã ly thân nhau cho đến nay là thực tế. Nay địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Th được ly hôn anh Đ theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Th xác định chị và anh Đ có 02 con chung là Lã Thảo V, sinh ngày 25/8/2017 và Lã Ngọc Bảo L, sinh ngày 02/4/2019, hiện nay cả hai cháu đều đang do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị Th xin được nuôi dưỡng hai con, chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về con riêng: Chị Th xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Chị Th xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1, Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th đối với anh Lã Văn Đ. Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Lã Văn Đ.
- Về con chung: Giao cháu Lã Thảo V, sinh ngày 25/8/2017 và cháu Lã Ngọc Bảo L, sinh ngày 02/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lã Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về con nuôi, con riêng: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Lã Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Lã Văn Đ là hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 08/02/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là phường Lý Thường Kiệt, tỉnh Ninh Bình). Sau ngày kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến khoảng tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn căng thẳng, nặng nề. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn anh Đ. Còn anh Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình không đến Tòa để giải quyết việc ly hôn. Theo xác minh tại địa phương và người thân của anh Đ thì mâu thuẫn vợ chồng chị Th, anh Đ xảy ra và anh chị đã ly thân nhau từ cuối năm 2024 là thực tế, khả năng hàn gắn tình cảm để anh chị đoàn tụ là rất khó. Như vậy chứng tỏ hôn nhân giữa chị Th và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử cho chị Th được ly hôn anh Đ là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Th và anh Đ có 02 con chung là Lã Thảo V, sinh ngày 25/8/2017 và Lã Ngọc Bảo L, sinh ngày 02/4/2019. Xét thấy từ khi anh chị ly thân nhau đến nay cả hai cháu đều đang ở cùng với chị Th và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Lời khai của cháu V đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Th, giao cho chị Th được quyền nuôi dưỡng cháu V và cháu L, anh Đ không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị Th là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con riêng: Chị Th xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Chị Th xác định không có nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Lã Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Lã Thảo V, sinh ngày 25/8/2017 và cháu Lã Ngọc Bảo L, sinh ngày 02/4/2019 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th.
Chị Th cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003373 ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. (Chị Th đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5; - THADS tỉnh Ninh Bình; - UBND phường Lý Thường Kiệt; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Thạo |