vanban.org

Bản án 19/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phi T.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Phi T được ly hôn với bà Nguyễn Vũ Mộng H. Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Phi T và bà Nguyễn Vũ Mộng H chấm dứt, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Phi T - Nguyễn Vũ Mộng H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phi T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 3 - 2026
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Đoàn.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bạch Đình Ca

2. Ông Hoàng Năng Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Duy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 248/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phi T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn K, xã D, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Vũ Mộng H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn K, xã D, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Phi T trình bày:

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Phi T và bà Nguyễn Vũ Mộng H là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là UBND xã D, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 19/8/2011 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên ông T làm đơn khởi kiện xin ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông T, bà H có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 18/6/2012. Hiện cháu T1 đang sống cùng ông T, nếu Toà án giải quyết cho ly hôn thì ông T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Đối với bị đơn bà Nguyễn Vũ Mộng H: Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để tiến hành hoà giải và tham gia phiên toà, nhưng đều vắng mặt, do vậy phải tự chịu hậu quả về việc từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

-Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng từ khi khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc phần tranh luận.

-Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phi T.

Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Phi T được ly hôn với bà Nguyễn Vũ Mộng H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 18/6/2012 cho ông Nguyễn Phi T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, Viện kiểm sát, HĐXX xét thấy:

. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Vũ Mộng H đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H là hoàn toàn tự nguyện ông, bà có đăng ký kết hôn với nhau tại tại UBND xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là UBND xã D, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 19/8/2011 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống ông, bà thường xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành hoà giải cho các đương sự nhưng bà H đều vắng mặt nên không có kết quả. Xét thấy, mâu thuẫn tình cảm của ông, bà đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của ông T, cho ông T được ly hôn với bà H.

. Về con chung: Ông T và bà H có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 18/6/2012. Hiện nay, cháu T1 đang ở cùng ông T.

Xét nguyện vọng của ông T khi ly hôn mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, mặt khác cháu T1 cũng có nguyện vọng mong muốn được tiếp tục ở cùng ông T. Để không làm thay đổi cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Ngọc Thanh T1 cho ông Nguyễn Phi T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

. Về án phí: Ông Nguyễn Phi T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 220, 227, 228, 238, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án. Các Điều 51, 55, 57, 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về mức thu án phí, lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phi T.

1.Về hôn nhân: Ông Nguyễn Phi T được ly hôn với bà Nguyễn Vũ Mộng H.

Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Phi T và bà Nguyễn Vũ Mộng H chấm dứt, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Thanh T1, sinh ngày 18/6/2012 cho ông Nguyễn Phi T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ tuổi thành niên.

Vì lợi ích của con và theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Phi T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005587 ngày 12/12/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Đắk Lắk.

4. Thông báo quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ