- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Y - Lê văn M"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Y.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH —————————— Bản án số: 19/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 3 - 2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Bang và bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Vũ Đức Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2026/TLST
- HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Y - có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: thôn P, xã H, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị đơn: anh Lê Văn M - có đơn xin xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 4, phân trại 2, Trại giam H1 thuộc Cục C, Bộ C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn chị Trần Thị Y trình bày: chị Y đăng ký kết hôn với anh Lê Văn M vào năm 2020 tại UBND xã H, huyện B, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh M mải chơi, dính vào ma túy và pháp luật, từ tháng 10/2020 anh M bị bắt về tội ma túy, hiện nay đang phải đi chấp hành án phạt tù, kể từ khi anh M bị đi tù tình cảm vợ chồng nhạt dần. Nay chị Y thấy không còn tình cảm với anh M, nên đề nghị được ly hôn anh M.
Về con chung: vợ chồng chị Y có 01 con chung là cháu Lê Gia H, sinh ngày 22/12/2020, chị Y đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn M có lời khai trình bày: về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Y trình bày là đúng. Vợ chồng cũng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ do anh M dính vào ma túy và bị đi tù nên tình cảm vợ chồng nhạt dần, chị Y không còn quan tâm đến anh M nữa. Nay chị Y xin ly hôn thì anh M thấy cũng không còn tình cảm vợ chồng nên đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh M và chị Y có 01 con chung như chị Y đã trình bày, nếu ly hôn anh M đề nghị được nuôi dưỡng con chung và anh M sẽ nhờ mẹ và chị gái ở nhà chăm sóc con hộ trong thời gian anh M phải đi chấp hành án phạt tù, anh M cũng không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: anh M không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà có quan điểm: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tố tụng đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Về tình cảm: xét thấy chị Y và anh M đều xác định không thể tiếp tục chung sống, đều nhất trí ly hôn nên cho chị Y và anh M được ly hôn.
Về con chung: chị Y, anh M đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung tuy nhiên do anh M hiện đang phải đi chấp hành án phạt tù nên giao con chung cho chị Y được quyền nuôi dưỡng và anh M không phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về tố tụng: vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội và khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Y, anh M có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Y, anh M theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tình cảm: trong quá trình giải quyết vụ án chị Y và anh M đều xác định không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý ly hôn. Xét lời trình bày của chị Y, anh M, xác minh tại địa phương thì thấy rằng hiện nay chị Y và anh M không còn quan tâm đến nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh M đã ở mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho chị Y và anh M được ly hôn là phù hợp.
[3] Về con chung: chị Y và anh M đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, tuy nhiên hiện nay do anh M đang phải đi chấp hành án phạt tù nên anh M không đủ điều kiện và khả năng để nuôi con, do đó giao cho chị Y được quyền nuôi dưỡng con chung và anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung: chị Y, anh M không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập.
[5] Về án phí: chị Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Y.
Cho chị Trần Thị Y được ly hôn anh Lê Văn M.
Về con chung: giao cho chị Trần Thị Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lê Gia H, sinh ngày 22/12/2020 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Căn cứ: khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí.
Buộc chị Trần Thị Y phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị Y đã nộp theo biên lai số 0000342 ngày 23/01/2026 của THADS tỉnh Q.
Căn cứ Điều 271, 273 – Bộ luật tố tụng dân sự. Báo cho chị Y, anh M vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND khu vực 4; - THADS tỉnh Quảng Ninh; - UBND xã Hoành Mô; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hải |