- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B đối với Công ty TNHH N1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 19/2025/KDTM-ST Ngày 28-4-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thụy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2025/TLST-KDTM ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2025/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-KDTM ngày 08/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH B; địa chỉ: khu công nghiệp M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: ông Li W, chức danh: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Phan Thị Hồng N, sinh năm 1980; thường trú: tổ A, khu phố M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; địa chỉ liên hệ: Công ty TNHH B; khu công nghiệp M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (văn bản ủy quyền ngày 30/11/2024). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH N1; trụ sở: thửa đất số 370-373, tờ bản đồ số 10, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Việt H, chức danh: Giám đốc. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Phan Thị Hồng N trình bày:
Công ty TNHH N1 với Công ty TNHH B có thỏa thuận mua bán hàng hóa là thép thông qua đơn đặt hàng số P02206192 ngày 06/6/2022 và bảng báo giá số 20220606/BH-TT ngày 06/6/2022, thời gian giao hàng theo yêu cầu của khách hàng, hình thức thanh toán: lần 1 thanh toán 30% giá trị báo giá ngay sau khi ký xác nhận đặt hàng, lần 2 trong vòng 30 ngày sau khi giao hàng. Theo thỏa thuận thì Công ty TNHH B đã giao hàng đầy đủ theo thỏa thuận, giá trị của đơn hàng là 361.739.400 đồng (đã bao gồm thuế VAT), ngày 10/6/2022 xuất hóa đơn giá trị gia tăng.
Ngày 26/7/2022, Công ty TNHH N1 thanh toán cho Công ty TNHH B số tiền 100.000.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản (bao gồm phí chuyển khoản ngân hàng), số tiền còn nợ 261.739.400 đồng. Mặc dù Công ty TNHH B đã nhắc nhở Công ty TNHH N1 thanh toán hết số tiền nợ còn lại, nhưng Công ty TNHH N1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Vì vậy, Công ty TNHH B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH N1 thanh toán số tiền còn thiếu là 261.739.400 đồng và tiền lãi do chậm nghĩa vụ thanh toán tạm tính từ ngày 01/8/2022 đến ngày 30/11/2024 trên mức lãi suất 8%/năm (tương đương 0.022%/ngày) là: 261.739.400 đồng x 0.022%/ngày x 852 ngày = 48.877.144 đồng.
- Đối với bị đơn Công ty TNHH N1:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho Công ty TNHH N1 thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời yêu cầu Công ty TNHH N1 có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B nhưng Công ty TNHH N1 không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ và vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn, bị đơn có trụ sở tại thửa đất số 370-373, tờ bản đồ số 10, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương phải trả số tiền mua hàng còn nợ nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương được quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa vào ngày 08/4/2025 và ngày 28/4/2025 nhưng vắng mặt không có lý do. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp bất cứ chứng cứ gì. Vì vậy, bị đơn phải gánh chịu hậu quả do việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Thỏa thuận mua bán hàng hóa là thép thông qua đơn đặt hàng số P02206192 ngày 06/6/2022 và bảng báo giá số 20220606/BH-TT ngày 06/6/2022 được có những nội dung không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực và phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Về tiền mua hàng: thực hiện thỏa thuận, nguyên đơn đã bán cho bị đơn loại thép, về quy cách, số lượng, đơn giá được thể hiện cụ thể theo đơn đặt hàng số P02206192 ngày 06/6/2022, bảng báo giá số 20220606/BH-TT ngày 06/6/2022 và phiếu thông báo giao nhận vận hàng ngày 07/6/2022. Sau khi giao hàng xong, nguyên đơn xuất hóa đơn giá trị gia tăng ngày 10/6/2022 tổng số tiền 361.739.400 đồng. Ngày 26/7/2022, bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản, số tiền còn lại 261.739.400 đồng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nhưng bị đơn không thanh toán. Đồng thời, nguyên đơn khởi kiện, bị đơn cũng không có ý kiến gì về việc đồng ý thanh toán số tiền còn nợ hay không là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại các Điều 50, 55 Luật Thương mại, cho nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Về tiền lãi chậm thanh toán: nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi 48.877.144 đồng, tính từ ngày 01/8/2022 đến ngày 30/11/2024, mức lãi suất 8%/năm đối với số tiền 261.739.400 đồng. Căn cứ vào biểu lãi suất do Ngân hàng N2, Ngân hàng TMCP N3, Ngân hàng TMCP C cung cấp thì mức lãi suất trung bình của 03 ngân hàng là 10,16%/năm. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính mức lãi suất là 8%/năm là thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường ở địa phương và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Từ những phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [6] Án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 50, Điều 51 và Điều 306 của Luật Thương mại; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B đối với Công ty TNHH N1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Buộc Công ty TNHH N1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH B với tổng số tiền 310.616.544 đồng; trong đó tiền nợ gốc 261.739.400 và tiền lãi chậm trả 48.877.144 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH N1 phải chịu 15.530.827 đồng. Trả lại cho Công ty TNHH B 7.765.414 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007769 ngày 20/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - Các đương sự (02); - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thụy |