- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Minh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 9 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 27-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 9
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 2// Tiết Minh Nguyệt.
Các Hội thẩm quân nhân:
2// Nguyễn Trọng Ân;
2// Mai Thành Trung.
- Thư ký phiên tòa: 4/ Nguyễn Thị Thúy Loan, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9.
- Đại diện Viện Kiểm sát quân sự Khu vực 92 tham gia phiên tòa: 2// Phạm Thành Nhân và 3/ Trần Hoàng H, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lý Minh T; tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1990, tại thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Số F, đường L, Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ (trước đây là Khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang); số định danh cá nhân: 093090004017; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 6; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn S và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2018; tiền án: có 02 tiền án (ngày 13/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/12/2023 bị Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 7 xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”); tiền sự: không; nhân thân: Ngày 25/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/8/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 10/5/2025 đến 19/5/2025; tạm giam từ ngày 19/5/2025 cho đến nay tại Trại Tạm giam H85 - Quân khu I; có mặt.
- Bị hại:
1. Tổng Công ty Cổ phần C (C), có ông Lê Văn P, sinh ngày 07/5/1984, chức vụ: Phó Giám đốc Kỹ thuật - Chi nhánh Công trình C, được Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cổ phần C ủy quyền tham gia phiên tòa, tại Giấy ủy quyền số: 6052/GUQ-VCC ngày 18 tháng 8 năm 2025; vắng mặt.
2. Công ty Cổ phần D1 có bà Đỗ Thu H1, sinh ngày 02/9/1992, chức vụ: Giám đốc; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phan Thị Trà V, sinh ngày 13/12/1984; nơi cư trú: Số A, đường N, xã Đ, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 22 giờ ngày 08/5/2025, Lý Minh T điều khiển xe mô tô biển số 61K1-173.17 từ nhà nghỉ T1 thuộc phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) theo hướng Quốc lộ A đi tìm dây điện để cắt trộm. Khi đến địa bàn Tổ A, ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là Tổ A, Ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang) Lý Minh T phát hiện 02 trụ phát sóng là Trạm KGG-0258 do Chi nhánh Công trình C quản lý (Trạm phát sóng C) và Trạm KGGQ12 của Công ty Cổ phần D1 cho M thuê. Bị cáo leo lên Trạm KGG-0258 trước, dùng kìm cắt 1 số đoạn dây điện rồi mang xuống, quấn thành cuộn nhỏ. Sau đó, leo lên Trạm KGGQ12 gần đó, cũng dùng kìm tiếp tục cắt 1 số dây điện và mang xuống, rồi bỏ toàn bộ số dây điện cắt được vào 1 cái bao nhặt được cạnh đó mang ra xe. Trên đường về thì bị lực lượng Cảnh sát Cơ động Công an thành phố C phát hiện và bắt giữ. Giá trị thiệt hại mà bị cáo gây ra đối với C là 895.708 đồng, đối với Công ty Cổ phần D1 di động là 2.842.180 đồng. Tổng giá trị thiệt hại mà bị cáo gây ra là 3.737.888 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Minh T khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 08/5/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 61K1-173.17 theo Quốc lộ F qua địa bàn thành phố V đến huyện G, tỉnh Kiên Giang với mục đích để tìm dây điện cắt trộm. Khi đến địa bàn huyện G bị cáo phát hiện 02 trụ phát sóng có nhiều dây điện nhưng không có người quản lý, trông giữ nên tìm chỗ cất xe và lấy trong cốp xe ra 02 cây kìm đã chuẩn bị sẵn. Đầu tiên, bị cáo leo lên Trạm phát sóng Viettel trước dùng kìm cắt 1 số dây điện mang xuống quấn thành cuộn nhỏ. Sau đó, qua tiếp Trạm phát sóng Công ty Cổ phần D1 kế bên, tiếp tục dùng kìm cắt 1 số đoạn dây điện mang xuống, quấn thành đoạn nhỏ rồi bỏ tất cả tài sản vừa trộm được vào cái bao nhặt được gần đó mang ra xe. Trên đường quay về thì bị phát hiện và bắt giữ.
Đại diện hợp pháp của bị hại C là ông Lê Văn P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra như sau: Tài sản bị mất trộm gồm 07 đoạn dây điện tiếp địa M16 có dạng hình trụ tròn, vỏ bằng nhựa màu vàng xanh, tổng chiều dài 11m; loại dây tiếp địa M25 màu vàng đồng không vỏ gồm 07 lõi có chiều dài khoảng 33cm. Đối với các thiệt hại xảy ra công ty đã khắc phục và không yêu cầu bồi thường. Các tài sản bị mất trộm phía công ty yêu cầu được nhận lại và đề nghị xử lý bị cáo đúng quy định của pháp luật.
Đại diện hợp pháp của bị hại Công ty Cổ phần D1 là bà Đỗ Thu H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn trình bày tại Cơ quan điều tra: Các tài sản bị thiệt hại có giá trị nhỏ nên không yêu cầu bị cáo bồi thường và không yêu cầu trả các tài sản đã mất trộm. Đề nghị xử lý bị cáo đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị Trà V trình bày: Theo thông tin từ Công an tôi biết được Lý Minh T đã thực hiện hành vi trộm cắp tại Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo có tác động tôi bồi thường thiệt hại thay bị cáo. Tôi đồng ý bồi thường và đã nộp cho Phòng Thi hành án Quân khu 9 số tiền 1.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này.
Biên bản xác định hiện trường được lập ngày 10/5/2025 xác định vị trí tại Tổ A, ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Kết luận định giá tài sản số 01/HĐĐGTS-TCKH ngày 11/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại xảy ra ngày 08/5/2025 tại Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang là 3.737.888 đồng.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSKV92 ngày 01/10/2025 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 92 truy tố bị cáo Lý Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; xử phạt bị cáo Lý Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 10/5/2025).
Về hình phạt bổ sung: Không
Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị không xem xét giải quyết. Đề nghị trả lại cho bà Phan Thị Trà V số tiền 1.000.000 đồng do Phòng Thi hành án Quân khu 9 đang tạm giữ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận việc Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 2, Các tổ chức sự nghiệp - Bộ Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Viettel: 07 đoạn dây cáp M16, loại dây tiếp địa vỏ màu vàng xanh có tổng chiều dài 11m; 01 đoạn dây không vỏ 07 lõi màu vàng đồng loại M25 có tổng chiều dài 33cm và trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.
Áp dụng khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự giao 01 xe môtô hiệu YAMAHA, số loại Exciter, xe vàng đen, số máy: 55P1243044, số khung: RLCE55P10DY243039; biển số 61K1-173.17 cho Phòng Thi hành án Quân khu 9 quản lý. Đến hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu xe, người quản lý hợp pháp (ngày 21/8/2025), nếu có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn trên, tài sản sẽ được sung vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy: 02 cây kìm bằng kim loại là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy đối với các vật là tài sản do phạm tội mà có gồm: 08 đoạn dây cáp M16, loại dây tiếp địa, vỏ màu vàng xanh, tổng chiều dài 25,3m; 18 đoạn dây cáp M16, loại dây tiếp địa, vỏ màu đen, tổng chiều dài 8,28m; 01 đoạn dây cáp M2.5, loại dây tiếp địa, vỏ màu xanh, có chiều dài 3,2m và 01 miếng kim loại tình trạng rỉ sét được sơn đỏ, kích thước 29x0,5cm do đại diện bị hại không yêu cầu nhận lại tài sản và xét thấy không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo đồng ý với nội dung luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ, tài liệu, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 2, Các tổ chức sự nghiệp - Bộ Q, Điều tra viên; Viện Kiểm sát quân sự Khu vực 92, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về chứng cứ, tài liệu, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có cơ sở khẳng định các chứng cứ, tài liệu, hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Theo đó, có cơ sở khẳng định: Khoảng hơn 22 giờ ngày 08/5/2025, Lý Minh T điều khiển xe mô tô biển số 61K1-173.17 đến địa bàn Tổ A, ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, cắt trộm dây điện với tổng thiệt hại là 3.737.888 đồng. Cụ thể, Trạm phát sóng KGG-0258 Chi nhánh Công trình C, giá trị thiệt hại được xác định là 895.708 đồng và Trạm KGGQ12 của Công ty Cổ phần D1, giá trị thiệt hại được xác định là 2.842.180 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tiền án vào năm 2022 và năm 2023, bản án năm 2023 bị Tòa án áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên trong vụ án này bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát quân sự Khu vực 92 đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo đủ nhận thức để biết rằng hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công lao động một cách chân chính mà bị cáo đã có hành vi cắt trộm dây điện của Trạm thu phát sóng Chi nhánh công trình C và Trạm thu phát của Công ty Cổ phần D1; hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Quân đội. Vì vậy, cần có mức xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra để có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khoảng thời gian từ hơn 22 giờ ngày 08/5/2025 đến 00 giờ 09/5/2025 bị cáo đã lén lút thực hiện 02 lần hành vi trộm cắp tài sản với mỗi lần thực hiện đều thỏa mãn cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động bà Phan Thị Trà V bồi thường thiệt hại thay bị cáo số tiền 1.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân không tốt, có nhiều tiền án mà tiếp tục phạm tội, có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội sau này.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét.
Ghi nhận bị cáo đã tác động và bà Phan Thị Trà V đã nộp Phòng Thi hành án Quân khu I số tiền 1.000.000 đồng để bồi thường thay bị cáo và không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền này. Do các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên trả lại số tiền này cho bà Phan Thị Trà V.
Về xử lý vật chứng:
Trước khi xét xử, Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 2, Các tổ chức sự nghiệp
- Bộ Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 15/QĐ-XLVC ngày 03/9/2025 đã trả lại cho bị hại Viettel: 07 đoạn dây cáp M16, loại dây tiếp địa vỏ màu vàng xanh có tổng chiều dài 11m; 01 đoạn dây không vỏ 07 lõi màu vàng đồng loại M25 có chiều dài 33cm và Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 16/QĐ-XLVC ngày 05/9/2025 trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự việc xử lý này là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 xe môtô hiệu YAMAHA, số loại Exciter, xe vàng đen, số máy: 55P1243044, số khung: RLCE55P10DY243039; biển số 61K1-173.17 qua xác minh ông Trần Văn D là chủ sở hữu nhưng ông D đã bán cho người khác không có giấy tờ và bị cáo khai là cầm xe lại của người tên V1 nhưng hiện nay chưa tìm được người này. Hiện nay, cơ quan Điều tra đã đăng tin tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của xe nên căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự giao cho Phòng Thi hành án Quân khu 9 quản lý. Đến hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu xe, người quản lý hợp pháp (ngày 21/8/2025), nếu có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn trên, tài sản sẽ được sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 02 cây kìm bằng kim loại mà bị cáo sử dụng để cắt trộm dây điện, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 08 đoạn dây cáp M16, loại dây tiếp địa, vỏ màu vàng xanh, có tổng chiều dài 25,3m; 18 đoạn dây cáp M16, loại dây tiếp địa, vỏ màu đen, có tổng chiều dài 8,28m; 01 đoạn dây cáp M2.5, có chiều dài 3,2m và 01 bả đồng bằng kim loại là tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của Công ty Cổ phần D1, phía bị hại không nhận lại số tài sản này nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, xét thấy các tài sản mặc dù không còn đưa vào hoạt động như hiện trạng ban đầu nhưng vẫn còn giá trị nên căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho chủ sở hữu.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lý Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lý Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 10/5/2025).
2. Về bồi thường thiệt hại:
Ghi nhận bị cáo đã tác động và bà Phan Thị Trà V đã nộp Phòng Thi hành án Quân khu I số tiền 1.000.000 đồng để bồi thường thay bị cáo. Do các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên trả lại số tiền này cho bà Phan Thị Trà V.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự giao 01 xe môtô hiệu YAMAHA, số loại Exciter, xe vàng đen, số máy: 55P1243044, số khung: RLCE55P10DY243039; biển số 61K1-173.17 cho Phòng Thi hành án Quân khu 9 quản lý. Đến hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu xe, người quản lý hợp pháp (ngày 21/8/2025), nếu có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn trên, tài sản sẽ được sung vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy: 02 cây kìm bằng kim loại. Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị hại Công ty Cổ phần D1 di động: 08 đoạn dây cáp M16, có tổng chiều dài 25,3m; 18 đoạn dây cáp M16, có tổng chiều dài 8,28m; 01 đoạn dây cáp M2.5, có chiều dài 3,2m và 01 bả đồng bằng kim loại (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/10/2025 của Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 2, Các tổ chức sự nghiệp - Bộ Q).
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lý Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/11/2025), đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân khu 9./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSQSQK9; - VKSQSKV92; - CQĐTHSKV2, CTCSN - BQP; - Phòng THAQK9; - Cơ quan THAHS - QK9; - Bị cáo; - Bị hại; - NCQL,NVLQĐVA; - Lưu HS, THA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký 2// Tiết Minh Nguyệt |