vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dung điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.050.000 đồng của bị cáo Lâm Quốc V do bán tài sản trộm cắp mà có. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Quốc V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIO LINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số:19/2025/HS-ST
Ngày 08/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hường và bà Trần Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Châu- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 11/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2005/QĐXXST-HS ngày 25/3/2025 đối với bị cáo: Lâm Quốc V; giới tính: Nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 20/5/1980, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: khu phố T, Phường 1, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; con ông: Lâm Quốc Hai (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955, già yếu, trú tại khu phố T, Phường 1, thành phố Đ; tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; anh chị em ruột: không.

Tiền án: 03 tiền án

- Ngày 22/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 07/5/2020;

- Ngày 24/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 09/4/2021;

- Ngày 29/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 22/9/2023.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 04/6/2019, Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 15/11/2021, Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”.

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị từ ngày 11/01/2025 đến nay.

Bị hại: anh Trần Ngọc A, sinh năm 1978,

Địa chỉ: khu phố 4, thị trấn G, huyện Gi, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Võ Chí H, sinh năm 1977;

Địa chỉ: thôn K, xã Th, huyện C, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

+ Anh Phan Văn T, sinh năm 1974;

Địa chỉ: khu phố 1, Phường 2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975;

Địa chỉ: khu phố Th, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Chị Trần Thị Phương Nh, sinh năm :

Địa chỉ: khu phố Th, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 ngày 08/01/2025, Lâm Quốc V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 74L1 - 062.82 đăng ký chủ sở hữu chị Trần Thị Phương Nh đã được giao quyền quản lý cho anh Nguyễn Văn H1, chủ văn phòng bán vé xe Hoài Vé ở thị trấn H nơi Lâm Quốc V làm việc, đi dọc Quốc lộ 1A, hướng vào thành phố Đ. Khi đi qua cửa hàng sửa chữa điện cơ của anh Trần Ngọc A, địa chỉ số 142 đường L, thị trấn G, huyện Gi, Lâm Quốc V thấy không ai trông coi nên vào quán lấy trộm 01 mô tơ điện nhãn hiệu MITSHUBISHI GM - SB rồi bỏ lên giá để đồ giữa xe mô tô và điều khiển xe vào thành phố Đ. Khi đến khu vực xã Th, huyện C, thấy bên đường có quán mua bán phế liệu thì dừng lại bán cho chủ quán là anh Võ Chí H với giá 350.000 đồng. Sau đó, Lâm Quốc V ra lại thị trấn H; đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày khi trên đường vào lại thành phố Đ, V tiếp tục ghé lại quán anh Trần Ngọc A lấy trộm 01 mô tơ điện nhãn hiệu DOLIN bỏ lên giá để đồ giữa xe rồi điều khiển xe vào thành phố Đ. Khi đến quán phế liệu Anh Tú (ở phường 2, thành phố Đ), Vũ bán cho chủ quán là anh Phan Văn T với giá 700.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán 2 mô tơ điện Lâm Quốc V đã tiêu xài cá nhân hết.

Bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 11/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gio Linh kết luận: “01 mô tơ điện nhãn hiệu MITSHUBISHI GM - SB, loại 1.5 KW, 4P, 3 PHASE mua mới vào năm 2022, đã qua sử dụng có trị giá 2.900.000 đồng”; “01 mô tơ điện nhãn hiệu DOLIN, loại 3,7 KW, 5P, 3 PHASE, kiểu AL-AE2-112B5, mua mới vào năm 2022, đã qua sử dụng có trị giá 5.360.000 đồng”.

Cáo trạng số 21/CT-VKS-GL ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo Lâm Quốc V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Lâm Quốc V về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lâm Quốc V Lâm từ 2 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Gio Linh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo, có cơ sở khẳng định: Vào khoảng 10h và khoảng 18h30 ngày 08/01/2025, Lâm Quốc V đã 02 lần lấy trộm mô tơ điện của anh Trần Ngọc A tại cửa hàng của anh A ở số 142 đường L, thị trấn G, huyện Gi với tổng trị giá 8.260.000 đồng. Tại bản án số 64/2022/HS-ST, ngày 29/6/2022, Tòa án nhân dân thành phố Đ tuyên phạt bị cáo Vũ 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, xác định bị cáo “Tái phạm”. Bị cáo chưa được xoá án tích đối với bản án này mà còn thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vây, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thực hiện 2 lần trộm cắp tài sản mỗi lần có trị giá trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 2 lần trở lên quy định tại tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lâm Quốc V là người có đầy đủ nhận thức và hiểu biết pháp luật nhưng với ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Quốc V là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Hành vi này không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu tài sản mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn, tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần xử phạt nghiêm minh mới đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Chí H và Phan Anh Tú không yêu cầu bị cáo trả lại tiền đã mua mô tơ nên không xem xét.

- Các vật chứng được thu giữ trong quá trình điều tra gồm: xe mô tô BKS 74L1 - 062.82 đăng ký tên Trần Thị Phương Nh giao anh Nguyễn Văn H1 quản lý; 02 mô tơ điện nhãn hiệu MITSHUBISHI GM - SB, loại 1.5 KW, 4P, 3 PHASE và nhãn hiệu DOLIN, loại 3,7 KW, 5P, 3 PHASE, kiểu AL-AE2-112B5 của anh Trần Ngọc A; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gio Linh đã trả lại cho các chủ sở hữu đúng quy định nên không xem xét.

- Đối với khoản thu lợi bất chính do tài sản trộm cắp mà có của Lâm Quốc V cần tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.

Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối xe mô tô 74L1 - 062.82 bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội; đây là xe đăng ký tên chủ sở hữu là Trần Thị Phương Nh. Tuy nhiên, chị Nh đã giao toàn quyền quản lý tài sản này cho anh Nguyễn Văn H1; anh Nguyễn Văn H1 giao xe cho bị cáo để chở hàng tại quán nhưng bị báo dùng thực hiện hành vi trộm cắp anh H1 không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Hoài là có căn cứ.

Đối với các anh Võ Chí H, Phan Văn T có hành vi mua 02 mô tơ điện nhưng không biết các tài sản trên do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

Áp dụng biện pháp ngăn chặn: thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ban hành Lệnh tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Quốc V 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/01/2025.

2. Áp dung điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.050.000 đồng của bị cáo Lâm Quốc V do bán tài sản trộm cắp mà có.

3. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Lâm Quốc V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ