vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 17/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c, f Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thái Phi V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo Hồ Thái Phi V 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ sơ hình sự sơ thẩm - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c, f Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CÁI RĂNG,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 19/2025/HS-ST
Ngày 17-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Mẫn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1) Ông Lư Thành Danh.

2) Bà Lê Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên toà: Ông Đồng Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Hồ Thái Phi V, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1999 tại Cần Thơ.

Nơi cư trú: Số 140 Khu vực Kh, phường Ph, quận C, Thành phố C; nghề nghiệp: Nhân viên nhà hàng; trình độ văn hóa (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn D và bà Thái Thị Hồng Nh; chưa vợ con; Tiền án: 01 tiền án (chưa xóa án tích), tiền sự không; bị cáo tại ngoại “có mặt tại phiên tòa”.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Trọng Ng, là luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Th thuộc Đoàn luật sư tỉnh H (Có mặt).

Địa chỉ: Số 37 đường Ngô Quốc Tr, Phường N, thành phố V, tỉnh Hs.

Bị hại: Ông Ngô Thanh T, sinh ngày 21/10/1969. Địa chỉ thường trú: Ấp L xã L, huyện Ph, tỉnh H (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại:

1/ Chị Châu Ngọc T, sinh năm 2000. Địa chỉ thường trú: Số 32 Khu vực Ph, phường Ph, quận C, Thành phố C (Có mặt).

2/ Chị Ngô Thị Kim Y, sinh năm 1994. Địa chỉ thường trú: Ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh H (Có mặt).

(Theo văn bản ủy quyền ngày 04/3/2025).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Thái Thị Hồng Nh, sinh năm 1970. Địa chỉ thường trú: Số 140 Khu vực Kh, phường Ph, quận C, Thành phố C (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 14 tháng 6 năm 2024 Hồ Thái Phi V điều khiển xe mô tô biển số 65B2-109.57 hướng từ nút giao thông IC4 về IC3. Khi đến cầu Ấp Mỹ thuộc khu vực Phú Mỹ, phường Thường Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước nên phần bánh trước xe V điều khiển va chạm vào phía sau xe đạp do ông Ngô Thanh T điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả làm cho ông Ngô Thanh T ngã xuống đường và được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cấp cứu và điều trị, đến ngày 11/7/2024 thì được xuất viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 336/KLTTCT-TTPYCT ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế thành phố Cần Thơ kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Ngô Thanh T tại thời điểm giám định là 73%.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 65B2-109.57; 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-109.57; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 tên Hồ Thái Phi V; 01 xe đạp màu vàng nâu; 01 đôi dép màu đen trắng có chữ G -DuWaFashion; 01 mảnh nhựa màu đen có logo màu đỏ (hãng Honda) kích thước (37 x 25) cm; 01 mảnh nhựa đen có kích thước (16 x 2) cm; 03 mảnh nhựa đen có kích thước (5 x 4) cm; 03 mảnh nhựa (gồm một mảnh nhựa màu đen, 02 mảnh màu trắng dạ quang của đèn phía sau vành xe đạp), kích thước (2 x 1) cm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Châu Ngọc T (người được ông Ngô Thanh T ủy quyền) một chiếc xe đạp màu nâu vàng. Đối với các vật chứng còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã lưu kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Thanh T yêu cầu bồi thường 183.613.000 đồng chi phí điều trị thương tích và 500.000.000 đồng các tổn thất khác. Bị can Hồ Thái Phi V đã bồi thường cho bị hại Ngô Thanh T số tiền 183.613.000 đồng.

Cáo trạng số 13/CT-VKSCR ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng truy tố bị cáo Hồ Thái Phi V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và được phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có mẹ là người trực tiếp thờ cúng người có công với cách mạng – Liệt sĩ Hồ Văn T. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa, đối với loại tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” này không phải là lỗi cố ý nên tiền án trước đó không được tính là tình tiết tái phạm nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thống nhất thỏa thuận được với đại diện bị hại bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thêm 170.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Trả lại bị cáo 01 xe mô tô biển số 65B2-109.57, 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-109.57 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 tên Hồ Thái Phi V. Đối với xe đạp màu vàng nâu đã trả lại cho người đại diện của ông T đã nhận nên không đặt ra xem xét. Tịch thu, tiêu hủy 01 đôi dép màu đen trắng có chữ G -DuWaFashion, 01 mảnh nhựa màu đen có logo màu đỏ (hãng Honda) kích thước (37 x 25) cm, 02 mảnh nhựa đen có kích thước (16 x 2) cm; 03 mảnh nhựa đen có kích thước (5 x 4) cm; 03 mảnh nhựa (gồm một mảnh nhựa màu đen, hai mảnh màu trắng dạ quang của đèn phía sau vành xe đạp), kích thước (2 x 1) cm.

Công nhận bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị cho ông Ngô Thanh T 183.613.000 đồng. Công nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa bị cáo bồi thường cho bị hại tiền mất thu nhập 40.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng cho con bị hại 80.000.000 đồng. Án phí bị cáo chịu theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Theo Kết luận điều tra, Cáo trạng cũng như diễn biến phiên tòa thấy rằng Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra mẹ bị cáo là người trực tiếp thờ cúng liệt sĩ Hồ Văn T – người có công với cách mạng. Hơn nữa khi sự việc xảy ra, cả bị cáo và gia đình bị cáo đã cố gắng thể hiện thành ý bồi thường, khắc phục hậu quả 183.613.000 đồng, tại phiên tòa thỏa thuận bồi thường thêm 190.000.000 đồng (trong đó, giao 20.000.000 đồng trước khi phiên tòa diễn ra) thể hiện sự ăn năn hối cải trước hành vi đã gây ra. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ hơn mức hình phạt luật định. Về xử lý tang vật, vật chứng thống nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo với đại diện bị hại 170.000.000 đồng là tự nguyện nên đề nghị công nhận.

Bị cáo khai: Thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng với những gì đã xảy ra. Bị cáo đã thỏa thuận được với đại diện của bị hại và thống nhất bồi thường thêm cho bị hại 170.000.000 đồng.

Đại diện ủy quyền của bị hại trình bày: Đã nhận của bị cáo 183.613.000 đồng chi phí điều trị cho ông T. Trước khi diễn ra phiên tòa có làm đơn yêu cầu bị cáo bồi thường 256.910.000 đồng nhưng tại phiên tòa hôm nay thỏa thuận được, bị hại bồi thường thêm 190.000.000 đồng (gồm: tiền mất thu nhập 40.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng cho con bị hại 100.000.000 đồng). Bị cáo đã đưa 20.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho con bị hại, số tiền còn lại 170.000.000 đồng đề nghị Hội đồng xét xử công nhận để sau khi có bản án, bị cáo tiếp tục thực hiện đồng thời xin xem xét, xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị Hồng Nh trình bày: Khi xảy ra tai nạn bị cáo có gọi điện thoại về nhờ bà đến nơi xem xét bị hại giúp vì bị cáo bị thương tích nhiều phải đi cấp cứu. Khoảng 15 phút sau bà cùng người con thứ hai (em của bị cáo) đến nơi thì không còn thấy ông T nên đi đến Trung tâm Y tế quận Cái Răng – nơi bị cáo vào cấp cứu, sau đó chuyển bị cáo ra Bệnh viện 121 điều trị, mổ cấp cứu. Trong số tiền 183.613.000 đồng bồi thường chi phí điều trị cho ông T phần lớn là tiền của gia đình, có phần ít của bị cáo nên sau này bị cáo đi làm có thì trả lại không thì cũng không yêu cầu trả lại. Tại phiên tòa bị cáo và đại diện bị hại thỏa thuận bồi thường thêm 170.000.000 đồng thì là cha mẹ, con cái có thành ý nên cũng cố gắng hỗ trợ, phụ giúp bị cáo bồi thường hết để san sẻ gánh nặng cho ông T và cũng để bị cáo không còn mang nợ nần gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hồ Thái Phi V là người thành niên có đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có Giấy phép lái xe hạng A1 đã điều khiển xe mô tô hiệu Honda AIRBLADE biển số 65B2-109.57 do V là chủ sở hữu trong tình trạng tỉnh táo, không có chất kích thích, không có nồng độ cồn lưu thông trên đường hướng từ nút giao thông IC4 về IC3. Khi đến cầu Ấp Mỹ (thuộc khu vực Phú Mỹ, phường Thường Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ) do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên không kịp thời phát hiện ra ông T đang điều khiển xe đạp cùng chiều phía trước. Hậu quả xảy ra va chạm, V bị thương và tự đi cấp cứu, mổ điều trị, ông T bị thương tích 73%. Như vậy, hành vi trên của V đã vi phạm Khoản 23 Điều 8, Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và hội đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Phạm tội liên quan đến vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là lỗi vô ý nên tiền án trước đó của bị cáo không được xác định là tái phạm trong vụ án này, do đó bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả xong số tiền 183.613.000 đồng. Tại phiên tòa, qua thỏa thuận bị cáo đồng ý bồi thường thêm 190.000.000 đồng (đã thực hiện được ngay 20.000.000 đồng, còn lại 170.000.000 đồng) và được bị hại xin xét xử giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo có mẹ là người đang thờ cúng liệt sĩ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo điều khiển xe máy trong tình trạng tỉnh táo, không có sử dụng chất kích thích, có Giấy phép lái xe phù hợp với loại phương tiện được phép điều khiển nên lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông này là lỗi vô ý. Mặc dù lỗi vô ý nhưng lại gây hậu quả thương tật cho ông T cao nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục trong thời gian chấp hành án, sau này trở về, thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn. Tuy nhiên, khi xảy ra tai nạn thì ý thức cứu chữa, khắc phục hậu quả của bị cáo ảnh hưởng lớn đến tâm lý, thái độ của ông T cũng như người thân của ông. Trong trường hợp này, tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy được thành ý bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả từ bị cáo, gia đình bị cáo và được phía bị hại chấp nhận, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù là có căn cứ, phù hợp với diễn biến hành vi mà bị cáo gây ra.

Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại 01 xe đạp màu vàng nâu. Trả lại bị cáo 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-109.57, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 tên Hồ Thái Phi V. Trả lại bị cáo 01 xe mô tô biển số 65B2-109.57, tuy nhiên, cần thiết phải tạm giữ xe mô tô này để đảm bảo nghĩa vụ thi hành trách nhiệm dân sự của bị cáo; Tịch thu, tiêu hủy 01 đôi dép màu đen trắng có chữ G -Duwa Fashion, 01 mảnh nhựa màu đen có logo màu đỏ hãng Honda kích thước 37 x 25cm, 02 mảnh nhựa đen kích thước 16 x 2cm; 03 mảnh nhựa đen kích thước 5 x 4cm; 03 mảnh nhựa (gồm 01 mảnh nhựa màu đen, 02 mảnh màu trắng dạ quang của đèn phía sau vành xe đạp), kích thước 2 x 1cm. Áp dụng Điều 590 Bộ luật Dân sự công nhận sự thỏa thuận bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại 170.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và 8.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại các điểm c, f Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, Khoản 1 Điều 48, Điều 50, các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Điểm c, f Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thái Phi V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Thái Phi V 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về tang vật, vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo: Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng xử lý tang vật, vật chứng trao trả cho chị Châu Ngọc T – đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe đạp màu vàng nâu.

Trả lại bị cáo Hồ Thái Phi V 01 xe mô tô biển số 65B2-109.57, nhãn hiệu: Honda, số máy: JF63E2081331, số khung: RLHJF6327HZ06798, số loại: AIRBLADE, màu sơn: đen đỏ nhưng tạm giữ đảm bảo nghĩa vụ thi hành trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị cáo; Trả lại bị cáo Hồ Thái Phi V 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-109.57 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Thái Phi V.

Tịch thu, tiêu hủy 01 đôi dép nhựa bên phải màu đen trắng có chữ DuWa Fashion, 01 mảnh nhựa màu đen có logo màu đỏ hãng Honda kích thước 37 x 25cm, 02 mảnh nhựa đen kích thước 16 x 2cm; 03 mảnh nhựa đen kích thước 5 x 4cm; 03 mảnh nhựa (gồm 01 mảnh nhựa màu đen, 02 mảnh màu trắng dạ quang của đèn phía sau vành xe đạp), kích thước 2 x 1cm.

Công nhận sự thỏa thuận bị cáo Hồ Thái Phi V bồi thường cho bị hại Ngô Thanh T 170.000.000 đồng tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ