- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tiến Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 11-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thúy Phương
Bà Trần Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Sầm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Kỳ Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Tiến Đ, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1998 tại Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: XYZ, tỉnh Lạng Sơn (nay là X'Y'Z', tỉnh Lạng Sơn); căn cước công dân số 0123456789, do Cục Cảnh sát QLHS về TTXH Bộ Công an cấp ngày 11-8-2022; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Tiến D (đã chết) và bà Đinh Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08-5-2025 bị Công an xã Hoàng Đồng phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC; bị tạm giữ từ ngày 07-5-2025, tạm giam từ ngày 10-5-2025 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: RST, tỉnh Lạng Sơn (nay là R'S'T', tỉnh Lạng Sơn); vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Vũ Tuấn S, sinh năm 1996; địa chỉ: OPQ, tỉnh Lạng Sơn (nay là O'P'Q', tỉnh Lạng Sơn); có mặt.
2. Anh Toàn Văn T, sinh năm 1994; địa chỉ: UVX, tỉnh Lạng Sơn (nay là U'V'X', tỉnh Lạng Sơn); có mặt.
3. Bà Đinh Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: XYZ, tỉnh Lạng Sơn (nay là X'Y'Z', tỉnh Lạng Sơn); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Tiến Đ làm việc tại kho hàng công ty T.L; địa chỉ tại khu vực GHI, tỉnh Lạng Sơn (nay là G, tỉnh Lạng Sơn) do anh Trần Văn T làm giám đốc từ khoảng tháng 5-2024 đến ngày 31-3-2025. Sau khi nghỉ việc, do không có tiền tiêu nên Lê Tiến Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại phòng làm việc của anh Trần Văn T.
Lợi dụng dịp nghỉ lễ 30-4 và 01-5, kho hàng đóng cửa không có ai đến làm việc, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 28-4-2025, Lê Tiến Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu đen – trắng, biển kiểm soát T.Y đến kho hàng của anh Trần Văn T. Khi đến nơi, Lê Tiến Đ để xe ở ngoài Đường M rồi đi bộ vòng ra đằng sau kho hàng, mở cửa sổ thông qua phòng vệ sinh kho hàng rồi trèo vào trong kho, mở cửa phòng làm việc của anh Trần Văn T lấy trộm 01 case mày tính màu đen và 01 tai nghe headphone nhãn hiệu Marshall, 02 màn hình máy tính nhãn hiệu Xiaomi để ở khu vực bàn làm việc của anh Trần Văn T. Lê Tiến Đ mang tất cả những món đồ trên ra bãi cỏ gần kho hàng, rồi dùng xe mô tô chở những món đồ vừa trộm cắp về nhà cất giấu tại phòng ngủ (bị cáo chở 02 chuyến).
Đến khoảng 08 giờ 00 cùng ngày, Lê Tiến Đ mang case máy tính và 02 chiếc màn hình đến cửa hàng của anh Toàn Văn T chuyên kinh doanh linh kiện, sửa máy tính để bán. Sau khi kiểm tra máy, anh Toàn Văn T nói mua case máy tính giá 3.600.000 đồng, 01 màn hình to giá 1.800.000 đồng, còn chiếc màn hình bé thì anh Toàn Văn T nói là bị hỏng, không mua và Lê Tiến Đ cho anh Toàn Văn T chiếc màn hình trên. Sau đó, anh Toàn Văn T chuyển số tiền 5.600.000 đồng vào tài khoản ngân hàng MB số 1901081998 của Lê Tiến Đ. Toàn bộ số tiền trên Lê Tiến Đ đã tiêu xài cá nhân hết, còn lại chiếc tai nghe nhãn hiệu Marshall, Lê Tiến Đ chưa tìm được người mua nên vẫn để tại phòng ngủ ở nhà. Ngày 07-5-2025, khi phát hiện mất tài sản, anh Trần Văn T tới Công an tỉnh Lạng Sơn trình báo sự việc. Trên cơ sở trình báo của anh Trần Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Lang Sơn đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Tiến Đ.
Tại cơ quan điều tra, Lê Tiến Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên phù hợp với tài liệu điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể xác định Lê Tiến Đ dương tính với chất ma túy Cần sa (THC).
Sau khi nhận được thông báo từ Cơ quan điều tra, mẹ đẻ của Lê Tiến Đ là bà Đinh Thị N đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 tai nghe giả da, màu nâu – đen, nhãn hiệu Marshall.
Anh Toàn Văn T giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Xiaomi XMMNTWQ34, số IMEI 341113100244411; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Xiaomi XMMNT27Q, số IMEI 27575100161845; 01 case máy tính bên trong gồm có các linh kiện: Nguồn X power III 550; ổ cứng Seagate Barracuda 500gb; card đồ họa NVDIA RTX 2060l; Mainboard MSI Pro B760M DDR4.
Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 09-5-2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Lạng Sơn kết luận:
- 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Xiaomi XMMNTWQ34, số IMEI 341113100244411 trị giá 9.800.000 đồng;
- 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Xiaomi XMMNT27Q, số IMEI 27575100161845 trị giá 8.200.000 đồng;
- 01 case máy tính bên trong gồm có các linh kiện: Nguồn X power III 550; ổ cứng Seagate Barracuda 500gb; card đồ họa NVDIA RTX 2060l trị giá 2.733.000 đồng;
- Mainboard MSI Pro B760M DDR4 trị giá 5.950.000 đồng
- 01 tai nghe Headphone Marshall 4 trị giá 2.933.000 đồng
Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 29.616.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 21-7-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Lê Tiến Đ về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tiến Đ thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Tiến Đ phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Tiến Đ từ 12 đến 15 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; trả lại anh Vũ Tuấn S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát T.Y; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày, bị cáo rất ân hận về hành vi bị cáo đã thực hiện, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và chăm lo cho gia đình.
[
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại anh Trần Văn T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Trần Văn T theo quy định.
[2] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Về chứng cứ tài liệu trong vụ án được thu thập, bảo quản đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 28-4-2025 lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút lấy trộm của anh Trần Văn T các tài sản gồm: 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Xiaomi XMMNTWQ34, số IMEI 341113100244411; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Xiaomi XMMNT27Q, số IMEI 27575100161845; 01 case máy tính bên trong gồm có các linh kiện: Nguồn X power III 550; ổ cứng Seagate Barracuda 500gb; card đồ họa NVDIA RTX 2060l; Mainboard MSI Pro B760M DDR4; 01 tai nghe Headphone Marshall 4. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 29.616.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Về nhân thân: Ngày 08-5-2025 bị Công an xã Hoàng Đồng phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt chính: Xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại Trần Văn T đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu, đề nghị gì; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Toàn Văn T yêu cầu bị cáo trả lại 5.600.000 đồng tiền anh bỏ ra mua các tài sản bị cáo trộm cắp mang đến bán; bị cáo đã tác động gia đình hoàn trả toàn bộ số tiền trên cho anh Toàn Văn T, anh Toàn Văn T không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Bà Đinh Thị N không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 5.600.000 đồng bà đã bỏ ra để trả anh Toàn Văn T. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về phần dân sự.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu trắng – đen, biển kiểm soát T.Y, số khung 3579111315, số máy 24681012, là tài sản của anh Vũ Tuấn S cho bị cáo mượn, anh Vũ Tuấn S không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi trộm cắp tài sản và đề nghị xin lại chiếc xe. Do đó, cần trả lại chiếc xe trên cho anh Vũ Tuấn S theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với anh Toàn Văn T là người mua các tài sản mà bị cáo trộm cắp được của anh Trần Văn T, anh Toàn Văn T không biết các tài sản trên là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh Toàn Văn T là có căn cứ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 1 - Lạng Sơn là phù hợp, đúng quy định nên được chấp nhận.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173, điểm s, i, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 47; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Khoản 1 Điều 292, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
1. Về tội danh
Tuyên bố bị cáo Lê Tiến Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt
Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07-5-2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng
Trả lại anh Vũ Tuấn S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu trắng – đen, biển kiểm soát T.Y, số khung 3579111315, số máy 24681012.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Thi hành án dân sự khu vực 1 Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08-8-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn với Thi hành án dân sự khu vực 1 Lạng Sơn).
4. Về án phí
Bị cáo Lê Tiến Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 1 - T.Lạng Sơn; - Công an T.Lạng Sơn; - Phòng Thi hành án dân sự T.Lạng Sơn; - Bị cáo; người TGTT; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Nhàn |