vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Quốc Bảo - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2025/HS-ST
Ngày: 12-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cao Thị Loan;

2. Bà Nguyễn Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Quốc B, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1996 tại tỉnh T; Số CCCD: 082096016020; Cấp ngày 11 tháng 9 năm 2024; Nơi cư trú và chỗ ở: Ấp A, xã X, huyện C, tỉnh T (nay là ấp A, xã B, tỉnh Đ); Nghề nghiệp: Đánh bắt cá; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hồng V và bà Đặng Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 19/9/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 05/7/2024;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1971; (có mặt)

Nơi cư trú: số 446 Trưng Nhị, khu phố T, phường T, thành phố M, tỉnh T. (Hiện nay là: số 446 Trưng Nhị, khu phố T, phường M, tỉnh Đ)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Công Đ, sinh năm: 1988; (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T. (Hiện nay là: ấp H, xã B, tỉnh Đ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ sáng ngày 21/11/2024, Nguyễn Hoàng Quốc B đi bộ cặp bờ sông Tiền phát hiện ghe cào loại 2,5 tấn của anh Phạm Minh T đang đậu cách nhà Bảo khoảng 100 mét và không có người trông coi. Bảo sử dụng chìa khóa 13 mang theo sẵn để mở bình ắc quy 12V-100AH trên ghe rồi mang về cất giấu tại nhà, đến khoảng 09 giờ ngày 21/11/2024 thì bán cho người mua ve chai là Nguyễn Công Đ với giá 300.000 đồng. Đến 21 giờ ngày 22/11/2024, Bảo tiếp tục mang theo dụng cụ đến ghe của ông T trộm 01 cây láp, 01 chân vịt và 01 bánh lái gắn trên ghe rồi tiếp tục bán cho Nguyễn Công Đ được 1.505.000 đồng, toàn bộ số tiền này Bảo đã tiêu xài cá nhân. Ngày 28/11/2024, anh Tuấn đến ghe thì phát hiện ghe bị chìm, kiểm tra thấy mất một số tài sản trên ghe nên trình báo. Qua truy xét, xác định Nguyễn Hoàng Quốc B là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Phạm Minh T.

Thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 bình ắc quy hiệu Dongnai loại 12V-100AH, trên nắp bình có dãy số 162312210276;

- 01 chân vịt loại dùng cho ghe máy, bằng kim loại, màu đen, có 03 cánh quạt bằng kim loại màu đen đã rỉ sét, nặng 13kg;

- 01 thanh kim loại hình trụ tròn màu trắng đã rỉ sét nặng 18kg, chiều dài 2,42 mét, đường kính 3,5cm.

- 01 ốc bịt đầu bằng kim loại màu đen, đã rỉ sét, nặng 0,8kg, có 01 đầu hình lục giác bị cắt thành 02 mảnh.

- 01 bánh lái dùng cho ghe máy, bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, nặng 13kg, dài 1,19 mét.

- 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, chiều dài 16,5 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C;

- 01 cờ lê bằng kim loại màu đen đã rỉ sét, chiều dài 23 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C;

- 01 mỏ lết bằng kim loại sơn màu xanh đã rỉ sét, chiều dài 49 cm, một đầu có núm vặn điều chỉnh.

Theo Kết luận định giá số 01/KL-ĐGTS ngày 13/01/2025 của Hội đồng định giá huyện Chợ Gạo xác định 01 bình ắc quy loại 12V-100AH có giá trị 720.000 đồng; 01 bánh lái ghe bằng kim loại có giá trị 1.400.000 đồng; 01 chân vịt bằng kim loại có giá trị 1.610.000 đồng; 01 cây trục chân vịt bằng kim loại 840.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 4.570.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKSCG ngày 12/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp) truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, chiều dài 16,5 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C; 01 cờ lê bằng kim loại màu đen đã rỉ sét, chiều dài 23 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C; 01 mỏ lết bằng kim loại sơn màu xanh đã rỉ sét, chiều dài 49 cm, một đầu có núm vặn điều chỉnh.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đ vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt đương sự trên.

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Khoảng 01 giờ ngày 21/11/2024 và 21 giờ ngày 22/11/2024, tại ghe cào của anh Phạm Minh T đang neo đậu trên sông Tiền, đoạn thuộc ấp A, xã X, huyện C, tỉnh T; Nguyễn Hoàng Quốc B có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 bình ắc quy, 01 cây láp, 01 chân vịt và 01 bánh lái gắn trên ghe của ông Tuấn, tổng giá trị tài sản là 4.570.000 đồng như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.

Lời khai nhận trên của bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B đã phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản hiện trường của Cơ quan Cảnh sát điều tra; kết luận định giá số: 01/KL-ĐGTS ngày 13/01/2025 của Hội đồng định giá huyện Chợ Gạo, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan cơ điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị tổng cộng là 4.570.000 đồng. Cho nên hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về động cơ, mục đích của tội phạm: Bị cáo có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, nhưng chỉ vì không chịu lao động, khi phát hiện tài sản không người trông coi bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội trên của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo B có nhân thân không tốt, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đến nay vẫn chưa được xoá án tích. Tuy nhiên bị cáo không nhận thức được lỗi lầm của mình mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường xong cho bị hại. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả các tài sản cho bị hại và người liên quan do không liên quan đến hành vi phạm tội là có căn cứ.

* Vật chứng còn tạm giữ:

- 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, chiều dài 16,5 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C; 01 cờ lê bằng kim loại màu đen đã rỉ sét, chiều dài 23 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C; 01 mỏ lết bằng kim loại sơn màu xanh đã rỉ sét, chiều dài 49 cm, một đầu có núm vặn điều chỉnh. Xét thấy đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phhạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Các Điều 106; 136; 292 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét, chiều dài 16,5 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C;

- 01 cờ lê bằng kim loại màu đen đã rỉ sét, chiều dài 23 cm, một đầu hình còn, một đầu hình chữ C;

- 01 mỏ lết bằng kim loại sơn màu xanh đã rỉ sét, chiều dài 49 cm, một đầu có núm vặn điều chỉnh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ