- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đại Hoàng Trường và Lê Thị Trúc Tiên - phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:19/2025/HS-ST Ngày:12/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Phúc Viễn
2/ Ông Trương Hoàng Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Tháp, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Huỳnh Thanh Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Tháp mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2025 đối với:
1/ Bị cáo Võ Đại Hoàng T – sinh năm 1981 tại tỉnh Tiền Giang. Căn cước công dân: 082081010860 do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 09 tháng 8 năm 2021. Nơi cư trú: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh T (nay: ấp T, xã V, tỉnh Đ). Nghề nghiệp: Không. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Võ Đồng N - sinh năm 1952 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M - sinh năm 1954. Bị cáo có 01 chị ruột, bị cáo đã có vợ nhưng đã ly hôn, bị cáo có 01 con. Tiền sự: Không. Tiền án: 01 lần, ngày 14/7/2020, Võ Đại Hoàng Trường bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 38/2020/HSST, bị cáo Trường đóng phạt ngày 03/4/2025, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 05/01/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2/ Bị cáo Lê Thị Trúc T – sinh năm 2002 tại tỉnh Đồng Nai. Căn cước công dân: 082302005016 theo danh bản số 003 lập ngày 06/01/2025 tại Công an huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh T (nay: ấp Bình T, xã V, tỉnh Đ). Nghề nghiệp: Không. Giới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12. Con ông Lê Văn T - sinh năm 1971 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y (không rõ thông tin). Bị cáo không có anh chị em, bị cáo đã có chồng Nguyễn Hữu P – sinh năm 2001 (đã chết), bị cáo có 01 con. Tiền sự, tiền án: Không. Về nhân thân: Ngày 29/9/2021 bị cáo T bị Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 53/2021/HSST. Bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2021 và đã được xóa án tích; Ngày 03/01/2025, bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 01/2025/QĐ-TA, bị cáo T chưa chấp hành Quyết định. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 05/01/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Thế P – sinh năm 1979; (có mặt)
Nơi cư trú: ấp B, xã B1, huyện G, tỉnh T
Nay: ấp B, xã Đ, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Đại Hoàng T - sinh năm 1981, ngụ ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh T và Lê Thị Trúc T - sinh năm 2002, ngụ ấp B, xã Thạnh N, huyện Gò Công T là bạn bè quen biết nhau. Ngày 01/01/2025, bị cáo T nhờ một người quen (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) mua dùm 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng tại khu vực Thành phố G, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, bị cáo T gọi điện thoại hỏi bị cáo T1 đang ở đâu, bị cáo T1 trả lời đang ở nhà nghỉ My Phát tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh T thì bị cáo T1 tắt máy. Bị cáo T điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63AE – 103.04 đến nhà nghỉ My Phát, vào phòng 202 gặp bị cáo T1. Khi vào phòng, bị cáo T lấy gói ma túy ra, bị cáo T1 biết là để sử dụng nên lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong phòng đưa cho bị cáo T, bị cáo T đổ gói ma túy vào nỏ rồi cả hai cùng nhau sử dụng. Bị cáo T và T1 không sử dụng hết ma túy trong nỏ. Sau khi sử dụng, bị cáo T nhờ bị cáo T1 chở đi lấy điện thoại. Bị cáo T1 điều khiển xe chở bị cáo T đến khu vực huyện Gò Công Tây thì bị Cảnh sát giao thông chặn dừng xe kiểm tra. Khi kiểm tra xong, bị cáo T nhìn thấy dưới lề đường 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet nên nhặt lên xem thì thấy giữa vỏ bao thuốc và bìa nhựa có 01 gói nylon (bên trong có 02 cục tinh thể màu trắng). Bị cáo T biết đó là ma túy nên cất giữ, sau đó kêu bị cáo T1 chở về nhà nghỉ My Phát. Trên đường đi, bị cáo T có nói cho bị cáo T1 biết vừa nhặt được 01 gói ma túy. Khi về đến phòng 202 nhà nghỉ My Phát, bị cáo T lấy gói ma túy ra để trên giường và nói cho bị cáo T1 luôn. Đến khoảng 22 giờ, bị cáo T lấy hộp quẹt ra tính đốt lượng ma túy còn lại trong nỏ để sử dụng nhưng hộp quẹt hư không đốt lửa được. Khoảng 05 phút sau thì lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy – Công an huyện Chợ Gạo phối hợp Công an xã Long Bình Điền vào phòng kiểm tra, phát hiện ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng liên quan. Quá trình điều tra, bị cáo T và T1 khai ma túy còn lại trong nỏ khi bị công an phát hiện là do bị cáo T mang đến nhưng cả hai chưa sử dụng hết. Khi bị cáo T1 chở bị cáo T đi lấy điện thoại về nhà nghỉ My Phát, bị cáo T nói cho bị cáo T1 gói ma túy vừa nhặt được trên đường thì bị cáo T1 đồng ý nhận, phòng 202 nhà nghỉ My Phát là do bị cáo T1 thuê, bộ dụng cụ sử dụng ma túy là của V (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) để lại. Mục đích bị cáo T và T1 cất giấu ma túy là để sử dụng.
* Tại kết luận giám định số 04/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:
- Gói 1 (Ký hiệu 1): Mẫu 02 (hai) cục tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7456 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 2 (Ký hiệu 2): Mẫu tinh thể màu nâu gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1500 gam, loại Methamphetamine.
* Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSCG ngày 27/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Tháp) truy tố bị cáo Võ Đại Hoàng T và bị cáo Lê Thị Trúc T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Võ Đại Hoàng T và bị cáo Lê Thị Trúc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: bị cáo Võ Đại Hoàng Trường từ 02 năm đến 03 năm tù.
Áp dụng Điều 17, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: bị cáo Lê Thị Trúc Tiên từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
Đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu tiêu hủy một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 04/1 ghi ngày 03/01/2025, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Thị Diệu H (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Ngô Trí T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,6805 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methamphetammine và 01 (một) gói nylon trong suốt có 02 (hai) ngăn đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, bên trong không chứa gì;
- Tịch thu tiêu huỷ một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 04/2 ghi ngày 03/01/2025 có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Thị Diệu H (giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Ngô Trí T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,1141 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong không chứa gì;
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 (một) hột quẹt; 01 (một) gói thuốc Jet bên trong có 09 điếu thuốc;
- Trả lại một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Exciter màu đỏ trắng biển số 63AE – 103.04 do anh Võ Thế P, sinh năm 1979, ngụ ấp Bình Hòa Đông, xã Bình Nhì, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu. Tình trạng khi tiếp nhận: xe không nổ máy, không kiểm tra bên trong;
- Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xám hiệu Samsung. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong;
- Trả lại cho bị cáo T1 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xám hiệu Redmi. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xanh hiệu Vivo. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong.
* Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, các bị cáo thống nhất với cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.
* Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Thế P trình bày: anh yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Exciter màu đỏ trắng biển số 63AE – 103.04 do anh đứng tên.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Quyết định tạm giữ, Lệnh tạm giam đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự và được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Các biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, mở niêm phong lấy mẫu giám định, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị can, bị cáo được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận vào lúc khoảng 22 giờ 10 phút ngày 01/01/2025 tại ấp Tân Bình, xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang bị cáo T và bị cáo T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,8956 gam loại Methamphetamine thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang. Mục đích bị cáo T và bị cáo T1 tàng trữ ma túy là để sử dụng, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy ...thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, các bị cáo đã thành niên, nhận thức được chất ma túy là mối hiểm họa cho cộng đồng và việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo cất giấu là chất ma tuý, có khối lượng 0,8956 gam, loại Methamphetamine là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong khi các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của các bị cáo và xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và giáo dục chung cho mọi người.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, đồng phạm:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Tiên không có tình tiết tăng nặng còn bị cáo Trường có tình tiết tăng nặng, phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích.
+ Về nhân thân:
Bị cáo T1 có nhân thân xấu, bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 01 ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo T có nhân thân xấu, ngày 14/7/2020, bị cáo Võ Đại Hoàng T bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 38/2020/HSST, bị cáo T đóng phạt vào ngày 03/4/2025, chưa được xóa án tích.
+ Đồng phạm: trong vụ án này bị cáo T và bị cáo T là đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 04/1 ghi ngày 03/01/2025, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Thị Diệu H (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Ngô Trí T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,6805 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methamphetammine và 01 (một) gói nylon trong suốt có 02 (hai) ngăn đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, bên trong không chứa gì;
- Tịch thu tiêu huỷ một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 04/2 ghi ngày 03/01/2025 có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Thị Diệu H (giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Ngô Trí T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,1141 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong không chứa gì;
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 (một) hột quẹt; 01 (một) gói thuốc Jet bên trong có 09 điếu thuốc;
- Trả lại một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Exciter màu đỏ trắng biển số 63AE – 103.04 do anh Võ Thế P, sinh năm 1979, ngụ ấp Bình Hòa Đông, xã Bình Nhì, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu. Tình trạng khi tiếp nhận: xe không nổ máy, không kiểm tra bên trong;
- Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xám hiệu Samsung. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong;
- Trả lại cho bị cáo T1 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xám hiệu Redmi. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xanh hiệu Vivo. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về các chứng cứ buộc tội, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là tương xứng với nhân thân, hậu quả của các bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
+ Về xử lý vật chứng, Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Đại Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Võ Đại Hoàng T 02 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/01/2025.
2. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Trúc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Trúc T1 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/01/2025.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 04/1 ghi ngày 03/01/2025, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Thị Diệu H (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Ngô Trí T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,6805 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methamphetammine và 01 (một) gói nylon trong suốt có 02 (hai) ngăn đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, bên trong không chứa gì;
- Tịch thu tiêu huỷ một bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 04/2 ghi ngày 03/01/2025 có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Thị Diệu H (giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Ngô Trí T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,1141 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong không chứa gì;
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 (một) hột quẹt; 01 (một) gói thuốc Jet bên trong có 09 điếu thuốc;
- Trả lại một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Exciter màu đỏ trắng biển số 63AE – 103.04 do anh Võ Thế P, sinh năm 1979, ngụ ấp Bình Hòa Đông, xã Bình Nhì, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu. Tình trạng khi tiếp nhận: xe không nổ máy, không kiểm tra bên trong;
- Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xám hiệu Samsung. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong;
- Trả lại cho bị cáo T1 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xám hiệu Redmi. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xanh hiệu Vivo. Tình trạng khi tiếp nhận: điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra bên trong.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Võ Đại Hoàng T và Lê Thị Trúc T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - VKSND khu vực 1- ĐT; - THADS tỉnh ĐT; - Phân trại tạm giam Mỹ Tho; - Bị cáo, người liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Tuyết Hạnh |