- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Hoàng P phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HS-PT Ngày 06/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thông
Các Thẩm phán:
Ông Lê Khắc Thịnh
Ông Lê Thành Tôn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Vào ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 298/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Lê Hoàng P. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng P, sinh năm 1980, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số E, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn H (chết) và con Phan Thị S (chết); A, chị, em: 07 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1984, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Vợ: Trần Thị Hồng P1 (Đã ly hôn); Con: 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không có; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).
* Bị hại: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Số C, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 26/6/2024, Lê Hoàng P đến dự tiệc nhà ông Bùi Thanh P2 tại hộ số 132, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Tại đây, Lê Hoàng P ngồi cùng bàn với Huỳnh Văn C, Nguyễn Thị Hồng H1 và một số người khác. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi mọi người trong bàn tiệc đang ăn uống, nói chuyện và hát karaoke, Huỳnh Văn C quay sang cầm ly bia mời Nguyễn Thị Hồng H1 cùng uống thì bất ngờ P đứng dậy cầm vỏ chai thủy tinh (loại chai bia S) trên bàn tiệc đánh vào vùng mặt bên phải của ông C 01 cái gây thương tích làm chảy nhiều máu và vỡ vỏ chai bia. Huỳnh Văn C bỏ chạy ra đường và được người dân đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, đồng thời trình báo Công an xã T, thành phố S. Lê Hoàng P ném vỏ chai bia bị vỡ xuống đất và bỏ chạy về nhà. Ngày 02/7/2024 Huỳnh Văn C được xuất viện.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thu giữ:
- 01 vỏ chai thủy tinh bị vỡ màu nâu.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 409/KLTTCT-TTPYĐT ngày 02/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với Huỳnh Văn C kết luận:
- 02 sẹo vết thương vùng trán phải, vùng đuôi mày phải, kích thước nhỏ. Mỗi sẹo: 03%.
- Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt bên phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 06%.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Văn C tại thời điểm giám định là: 12%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Các vết thương trên do vật sắc nhọn gây ra.
Quá trình điều tra, Huỳnh Văn C có đơn xin không yêu cầu xử lý hình sự đối với Lê Hoàng P.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã quyết định:
1. Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P mức án 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt. 2. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mãnh vỡ thủy tinh màu nâu được niêm phong trong một phong bì có chữ ký của Lê Thanh T, có dấu mộc tròn đỏ của Công an xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2024).
- Ngày 06/11/2024, bị cáo P kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, với nội dung xin hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo P bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp chứng cứ gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.
Các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều đúng với quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì đối với các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Bị cáo kháng cáo xin hình phạt cải tạo không giam giữ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đây là vụ án cố ý gây thương tích do bị cáo P thực hiện. Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Khoảng 14 giờ ngày 26/6/2024, tại nhà anh P2 số 132, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo P đã có hành vi sử dụng vỏ chai thủy tinh (vỏ chai bia) là hung khí nguy hiểm vô cớ tấn công gây thương tích cho anh Huỳnh Văn C với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại xong, bị hại có đơn xin không xử lý hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp chứng cứ mới để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, đồng thời bị cáo cũng không đủ điều kiện để hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hình phạt cải tạo không giam giữ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Lê Hoàng P.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P mức án 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Hoàng P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án tối cao (Vụ 1); - Phòng KTNV & THA TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - TAND TP. Sa Đéc; - VKSND TP. Sa Đéc; - CCTHA-DS TP. Sa Đéc; - Cơ quan CS điều tra TP. Sa Đéc; - Cơ quan THAHS TP. Sa Đéc; - Sở Tư pháp; - Cơ quan CS điều tra CA tỉnh ĐT; - Cơ quan THAHS CA tỉnh ĐT; - Phòng hò sơ NV CA tỉnh ĐT; - Các bị cáo, đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thông |