vanban.org

Bản án 19/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ;

Chấp nhân yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mỹ T, cụ thể tuyên: Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Mỹ Thuận - Nguyễn Văn Bình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19 /2025/HNGĐ-ST
Ngày 04/8/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Thuở

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Châu Phương

2. Ông Sử Văn Trai Em

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Sương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu– Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 177/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 về "Ly hôn, tranh chấp con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST –HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ T, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp Phú Lộc H, xã An Đ, tỉnh V (ấp Phú Lộc H, xã An Đ, huyện M, tỉnh B).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp Phú Lộc H, xã An Đ, tỉnh V (ấp Phú Lộc H, xã An Đ, huyện M, tỉnh B).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre vào ngày 22 tháng 02 năm 2021. Chị và anh B có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thúy A sinh ngày 25/6/2011, đang sống với chị T. Nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn là do trong thời gian chung sống vợ chồng không hợp nhau, mâu thuẫn xảy ra thường xuyên, anh B thường xuyên cờ bạc nên không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu ly hôn.

Nay chị yêu cầu ly hôn với anh B, vợ chồng không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau. Anh B trực tiếp nuôi con chung, chị không cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn B đều vắng mặt nên không có lời khai.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Mỹ T, chị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B; giao con chung Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 25/6/2011 cho anh B nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con do anh B không yêu cầu; tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

- Nguyên đơn cầu ly hôn, giải quyết con chung, bị đơn có nơi cư trú tại xã An Đ, huyện M, tỉnh B nay là xã An Đ, tỉnh V nên quan hệ pháp luật là Ly hôn, tranh chấp con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 28, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T và anh Nguyễn Văn B xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn vào năm 2011 theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị T yêu cầu ly hôn vì chị cho rằng trong quá trình chung sống chị và anh B thường xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, anh B thường xuyên tham gia cờ bạc. Xét thấy, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh B để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T nhưng anh đều vắng mặt, đồng thời anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị T, điều đó chứng tỏ anh không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng đối với chị T. Vì vậy, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của chị T và anh B đã thật sự mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh B.

[2.2] Về con chung: Chị Võ Thị Mỹ T và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 25/6/2011, cháu An đang sống với chị T anh B, nguyện vọng của cháu A là muốn sống với anh B nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T về việc giao cháu An cho anh B nuôi dưỡng, ghi nhận việc chị T không cấp dưỡng cháu A do anh B không có yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị Mỹ T khai chị và anh Nguyễn Văn B không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Võ Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Đối với đề nghị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ;

Chấp nhân yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mỹ T, cụ thể tuyên:

1.Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 25/6/2011 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị Võ Thị Mỹ T không cấp dưỡng nuôi con do anh B không có yêu cầu.

Chị Võ Thị Mỹ T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc hay bên đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị Mỹ T khai chị và anh Nguyễn Văn B không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm, chị Võ Thị Mỹ T phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012113 ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9- Vĩnh Long (chị T đã nộp đủ án phí).

5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ