- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn ông Trần Văn Khai T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày 07 tháng 8 năm 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa - Bà Hồ Thị kim Liên
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2025/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 395/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 6 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1987. Nơi cư trú: 293/8, tổ A, ấp M, xã M, thành phố L (nay là xã M), tỉnh An Giang. Địa chỉ hiện nay: 1742 tỉnh lộ 10, khu phố A, phường T, Quận B (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Khai T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: 293/8, tổ A, ấp M, xã M, thành phố L (nay là xã M), tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn K T quen biết tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L vào năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Thời gian sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay cả hai không có thiện chí hòa giải, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm dành cho nhau không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn ông T.
Về con chung: Bà N trình bày bà và ông T có 03 (ba) con chung tên Trần Thị Ngọc L, sinh ngày 27/8/2009; Trần Thị Ngọc P, sinh ngày 22/3/2011; Trần Ngọc Minh T1, sinh ngày 23/01/2015. Các con chung hiện do bà nuôi dưỡng, bà yêu cầu được nuôi dưỡng 03 (ba) con chung sau khi ly hôn theo nguyện vọng của các con.
Tại phiên tòa bà N thay đổi ý kiến yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 03 (ba) con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày 05/9/2025 đến khi các con chung thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết, bị đơn ông Trần Văn Khai T được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Phiên tòa mở lần thứ hai, ông T tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hằng N. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn ông Trần Văn Khai T. Về con chung: Giao 03 con chung Trần Thị Ngọc L, Trần Thị Ngọc P, Trần Ngọc Minh T1 cho bà N chăm sóc, nuôi dưỡng, ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bà N yêu cầu giải quyết ly hôn ông T, ông T cư ngụ tại xã M, thành phố L (nay là xã M), tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Phiên tòa hôm nay được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông T vắng mặt không có lý do, bà N không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Văn Khai T.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà N tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo bà N trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cự cãi. Thời gian sống ly thân cả hai không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà N yêu cầu ly hôn ông T.
Quá trình giải quyết vụ án ông T vắng mặt. Theo phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an xã M, thành phố L ngày 12/5/2025 thể hiện: Trần Văn Khai T, sinh năm 1992 có đăng ký thường trú tại 293/8, tổ A, ấp M, xã M. Do ông T vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T biết nhưng ông T vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu chứng cứ do bà N cung cấp, cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ hoặc phản đối yêu cầu khởi kiện của bà N là ông T đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên cả ông T và bà N đều không quan tâm, không có biện pháp để hòa giải níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Phiên tòa được mở lần thứ hai ông T tiếp tục vắng mặt là không có nguyện vọng đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn ông T.
. Về con chung: Bà N và ông T có 03 (ba) con chung tên Trần Thị Ngọc L, sinh ngày 27/8/2009; Trần Thị Ngọc P, sinh ngày 22/3/2011; Trần Ngọc Minh T1, sinh ngày 23/01/2015. Cả 03 con chung đều có nguyện vọng được sống với bà N nếu cha mẹ ly hôn. Ông T không tranh chấp quyền nuôi con. Để ổn định cuộc sống của các con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N được chăm sóc, nuôi dưỡng 03 (ba) con chung sau khi ly hôn.
Tại phiên tòa bà N thay đổi ý kiến yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 (ba) con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày 05/9/2025 đến khi con chung thành niên.
Xét thấy, về cấp dưỡng nuôi con cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Bà N thay đổi ý kiến yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 (ba) con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) đến khi các con chung thành niên, là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức cấp dưỡng được thay đổi theo từng thời điểm, khi có yêu cầu. Bà N phải tạo điều kiện cho ông T được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Bà N nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông T, bà N được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết. Ông T không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.
. Về án phí: Bà N chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông T phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn ông Trần Văn Khai T.
- Về con chung: Ông T và bà N có 03 (ba) con chung tên Trần Thị Ngọc L, sinh ngày 27/8/2009; Trần Thị Ngọc P, sinh ngày 22/3/2011; Trần Ngọc Minh T1, sinh ngày 23/01/2015.
Bà N được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 (ba) con chung sau khi ly hôn.
Ông T cấp dưỡng nuôi 03 (ba) con chung Trần Thị Ngọc L, Trần Thị Ngọc P, Trần Ngọc Minh T1 mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày 05/9/2025 đến khi 03 (ba) con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Mức cấp dưỡng được thay đổi theo từng thời điểm.
Bà N phải tạo điều kiện cho ông T được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 (ba) con chung. Bà N nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông T, bà N được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hằng N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002811, ngày 06/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang). Bà N đã nộp đủ tiền án phí.
Ông Trần Văn Khai T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự cấp dưỡng.
Quyền kháng cáo:
Bà Ni có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông T không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi gởi: - Tòa án ND tỉnh An Giang; - VKSND Khu vực 9 - An Giang; - Phòng Thi hành án dân sự - Khu vực 9; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Nguyễn Thị Hoa |