- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thào Thị H ly hôn anh Sùng A Ch"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Thào Thị H được ly hôn anh Sùng A Ch.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19 /2025/HNGĐ – ST Ngày 12 tháng 6 năm 2025. “ V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tưởng Thị Tuyết;
2. Bà Phạm Thị Hòa;
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2025/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025; Giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Thào Thị H, sinh ngày 19/8/1996;
Địa chỉ: Thôn Ch, xã A L huyện B, tỉnh Lào Cai.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Anh Sùng A Ch, sinh ngày 08/3/1989.
Địa chỉ: Thôn Ch, xã A L, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trần Thị Chinh, Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 27/3/2025 và trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn chị Thào Thị H trình bày:
Chị và anh Sùng A Ch chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2011, đến ngày 02/3/2015 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ng (nay là xã A L), huyện B, tỉnh Lào Cai theo giấy chứng nhận kết hôn số 06, ngày 02/3/2015.
Sau khi đăng ký kết hôn, anh, chị sống với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Sùng A Ch thường xuyên uống rượu, mỗi lần say, anh Ch gây sự, chửi mắng đánh chị, chị đã tha thứ và khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh Ch không thay đổi, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 không còn quan tâm đến nhau. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Sùng A Ch.
Về con: Trong thời gian chung sống,vợ chồng sinh được 02 con chung, cháu thứ nhất Sùng A Hạnh, sinh ngày 08/4/2012 và cháu thứ hai Sùng Thị Yến, sinh ngày 02/02/2015. Hiện cả hai cháu đang sống với chị Thào Thị H từ khi hai vợ chồng ly thân. Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai cháu đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu anh Sùng A Ch cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh Sùng A Ch không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Sùng A Ch, do anh thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, vì vậy không tống đạt trực tiếp được, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng anh Sùng A Ch không đến và không nộp tài liệu chứng cứ gì.
Đối với vụ án này chị Thào Thị H có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải, vì vậy vụ án này không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà:
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát có quan điểm: Thẩm phán, hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật, thu thập chứng cứ đúng theo quy địnhpháp luật. Thư ký phiên toà và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện các quyền và ngh a vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 2,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thào Thị H được ly hôn anh Sùng A Ch.
Về con chung: Giao cả hai cháu Sùng A Hạnh, sinh ngày 08/4/2012 và cháu Sùng Thị Yến, sinh ngày 02/02/2015 cho chị Thào Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Sùng A Ch không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về án phí: Chị Thào Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Thào Thị H trình bày: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thào Thị H được ly hôn anh Sùng A Ch.
Về con chung: Giao cả hai cháu Sùng A Hạnh, sinh ngày 08/4/2012 và cháu Sùng Thị Yến, sinh ngày 02/02/2015 cho chị Thào Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Sùng A Ch không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về án phí: Chị Thào Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Sùng A Ch có địa chỉ tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Như vậy Tòa án nhân dân huyện Bát Xát thụ lý vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Thào Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Sùng A Ch vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Thào Thị H và anh Sùng A Ch.
Chị Thào Thị H và anh Sùng A Ch có thời gian chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2011, đến ngày 02/3/2015 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ng (nay là xã A L), huyện B, tỉnh Lào Cai theo giấy chứng nhận kết hôn số 06, ngày 02/3/2015 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.
Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:
Theo nguyên đơn trình bày thì anh, chị sống với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Sùng A Ch thường xuyên uống rượu, mỗi lần say anh Chá gây sự, chửi mắng đánh chị, chị đã tha thứ và khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh Chá không thay đổi, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 không còn quan tâm đến nhau. Bản thân anh Sùng A Ch không có văn bản trả lời Tòa án cũng không có ý kiến gì, mâu thuẫn của chị Hoa và anh Chá là có thật, mâu thuẫn của vợ chồng, do chị Hoa cung cấp phù hợp với nội dung xác nhận của địa phương nơi anh, chị cư trú. Nay chị Hoa xin ly hôn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của chị Hoa, áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Thào Thị H đựợc ly hôn anh Sùng A Ch.
Về con: Chị Thào Thị H và anh Sùng A Ch sinh được 02 con chung, cháu Sùng A Hạnh, sinh ngày 08/4/2012 và cháu Sùng Thị Yến, sinh ngày 02/02/2015. Hiện cả hai cháu đang sống với chị Hoa từ khi anh, chị sống ly thân năm 2021. Khi ly hôn chị Thào Thị H có nguyện vọng được nuôi cả hai con đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Xét thấy chị Thào Thị H là lao động tự do, thu nhập bình quân theo xác nhận của địa phương nơi chị Hoa cư trú từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày, bản thân anh Sùng A Ch không đến Tòa án và không có văn bản trả lời, mặt khác cháu Sùng A Hạnh và cháu Sùng Thị Yến khi hỏi ý kiến các cháu, các cháu đều muốn ở với mẹ, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Thào Thị H, giao cả hai cháu cho chị Thào Thị H nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị Thào Thị H không yêu cầu anh Sùng A Ch cấp dưỡng tiền nuôi con chung, xét thấy yêu cầu của chị Hoa là tự nguyện, vì vậy tạm thời anh Sùng A Ch không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Chị Thào Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết, trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Thào Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Xử cho chị Thào Thị H được ly hôn anh Sùng A Ch. Quan hệ hôn nhân của chị Thào Thị H và anh Sùng A Ch chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con: Chị Thào Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, cháu thứ nhất Sùng A Hạnh, sinh ngày 08/4/2012 và cháu thứ hai Sùng Thị Yến, sinh ngày 02/02/2015 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Tạm thời anh Sùng A Ch không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Sùng A Ch có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Thào Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Công ty Cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ngày 02/4/2025 và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên lai số 0002925 ngày 08 tháng 4 năm 2025.Chị Thào Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - VKSND H. Bát Xát (2); - Đương sự (2); - Người BVQ&LIHP; - UBND xã A L; - THA DS; - Người BVQ&LIHP; - Lưu TA,VP, HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Duy Chiến Hoàng Duy Chiến |