- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị H - Hoàng Văn Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn Q. Quan hệ hôn nhân của chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày 28/04/2025 V/v: “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn ”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Kim Phượng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân
Bà Vũ Thị Hòa
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.
Ngày 28/04/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2025/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Q định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị H - Sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn L, xã C, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn Q - Sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn L, xã C, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải Q vụ án nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày:
Chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q đăng ký kết hôn vào ngày 09/3/2020 tại UBND xã C, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng nhau về quan điểm sống cũng như làm ăn kinh tế xây dựng gia đình mỗi người một ý. Hơn nữa Q còn nghiện chất ma tuý. Tại quyết định số 118/QĐ - TA ngày 21/10/2021 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai với thời hạn 12 tháng. Sau khi chấp hành xong việc cai nghiện anh Q trở về nhà vợ chồng vẫn không hợp nhau, luôn bất đồng nhau về quan điểm làm ăn kinh tế. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải Nều lần, nhưng tình cảm không cải thiện được. Từ tháng 5 năm 2022 chị H và anh Q đã sống ly thân, từ khi ly thân chị H và anh Q không quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Nay, chị Hà Thị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc chị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Hoàng Văn Q.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q có 01 người con. Cháu Hoàng Thảo N sinh ngày 08/01/2021. Từ khi sống ly thân cháu N ở với chị H. Khi ly hôn chị Hà Thị H có nguyện vọng xin được nuôi cháu N đến tuổi trưởng thành. Hàng tháng chị H không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Mức thu nhập bình quân của chị H là 10.000.000 đồng/tháng. Hiện nay chị H đang làm tại Công ty TNHH M Yên Bái.
Về tài sản chung: Chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải Q.
Bị đơn anh Hoàng Văn Q trình bày: Về thời gian, địa điểm kết hôn như chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H đi làm ăn ở Bắc Giang dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau.Từ đó sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị Hà Thị H đề nghị ly hôn anh Q nhất trí ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q có 01 người con. Cháu Hoàng Thảo N sinh ngày 08/01/2021. Từ khi sống ly thân cháu N ớ với chị H. Khi ly hôn nguyện vọng của anh Q xin được nuôi cháu N đến tuổi trưởng thành. Hàng tháng không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Mức thu nhập bình quân của anh Q là 5.000.000đồng/ tháng. Anh Q đang đi làm thuê.
Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn Q và chị Hà Thị H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi anh Q làm bản tự khai, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Q không đến. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại đơn đề nghị giải Q vắng mặt, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu và ý kiến của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Chị Hà Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải Q “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với anh Hoàng Văn Q. Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện.
Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện:
Về hôn nhân: Chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q tự nguyện tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau vào ngày 09/3/2020 có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được thời gian đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng nhau về quan điểm sống cũng như làm ăn kinh tế xây dựng gia đình mỗi người một ý. Hơn nữa anh Q còn nghiện chất ma tuý. Tại quyết định số118/QĐ - TA ngày 21/10/2021 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai với thời hạn 12 tháng. Sau khi chấp hành xong việc cai nghiện anh Q trở về nhà vợ chồng vẫn không hợp nhau, luôn bất đồng nhau về quan điểm làm ăn kinh tế. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải Nều lần, nhưng tình cảm không cải thiện được. Từ tháng 5 năm 2022 chị H và anh Q đã sống ly thân, từ khi ly thân chị H và anh Q không quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Như vậy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị H đối với anh Hoàng Văn Q.
Về con chung: Anh chị có 01 người con chung cháu Hoàng Thảo N sinh ngày 08/01/2021. Khi ly hôn cả chị H và anh Q đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu N cho đến khi trưởng thành. Xét việc giao nuôi con thì thấy hiện nay chị H có thu nhập ổn định làm ở Công ty TNHH M Yên Bái. Hiện nay cháu N đang ở với chị H độ tuổi của cháu còn nhỏ, cháu là con gái, cần sự chăm sóc của người mẹ hơn. Việc giao cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp hơn, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Hoàng Thảo N cho chị Hà Thị H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thị H không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn.
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn Q. Quan hệ hôn nhân của chị Hà Thị H và anh Hoàng Văn Q được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2.Về con chung: Giao cháu Hoàng Thảo N sinh ngày 08/01/2021 cho chị Hà Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Hoàng Văn Q được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung chị Hà Thị H không được ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000003106366 ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam và theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/25 số 91 ngày 28 tháng 2 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chị Hà Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; TP - Các đương sự; - THADS; - UBND xã C; - Lưu. | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Kim Phƣợng |