- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh T-Nguyễn H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ – ST Ngày 25/8/2025. V/v: Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà H’Năm Bkrông.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Phạm Xuân Vinh.
2.Bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhị – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 -Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trần Duy Quyền – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại Toà án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 112/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 09b/2025/QĐST-DS ngày 13/8/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: 188/17/12/9 A, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: 188/17/12/9 A, phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2.Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn P 3, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Thôn P 3, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Trong bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn H có tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau, đến ngày 20/3/2015 chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì chúng tôi phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng, tính tình không hợp, anh H không có trách nhiệm phụ giúp tôi chăm sóc, nuôi dưỡng các con, ngoài ra anh còn công khai có mối quan hệ ngoài vợ chồng với người khác, lăng mạ, xúc phạm tình cảm vợ chồng. Mặc dù đã cố gắng hòa giải nhưng do mâu thuẫn trầm trọng nên chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Xét thấy không còn tình cảm với nhau nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn H.
-Về con chung: Trong thời gian chung sống chúng tôi có 03 con chung là cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 15/4/2015, cháu Nguyễn Ngọc Minh A, sinh ngày 29/8/2017 và cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 01/10/2024. Tôi có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 03 con cho đến khi các cháu trưởng thành.
-Về yêu cầu cấp dưỡng: Tôi không yêu cầu giải quyết.
-Về tài sản chung và nợ chung: Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn ông Nguyễn H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn H.
Về con chung: Có 03 con chung là cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 15/4/2015, cháu Nguyễn Ngọc Minh A, sinh ngày 29/8/2017 và cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 01/10/2024.
Giao cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 15/4/2015, cháu Nguyễn Ngọc Minh A, sinh ngày 29/8/2017 và cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 01/10/2024 cho bà Nguyễn Thị Thanh T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Đối với tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1].Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện (nay thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
.Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Nguyễn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
.Về nội dung:
3.1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn H có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 20/3/2015, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung, sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng nên đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, bà Tuyền xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn H. Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn H không tham gia tố tụng.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn H đã đến mức trầm trọng, vợ chồng mâu thuẫn nhưng không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình, ông Hoàng vắng mặt tại phiên tòa nên không thể xác định nguyện vọng của ông về quan hệ hôn nhân, còn bà Tuyền xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương, mặc dù địa phương không nắm cụ thể mâu thuẫn vợ chồng, tuy nhiên xác định được hai vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Như vậy thấy được quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T, cho bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn H.
3.2.Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 15/4/2015, cháu Nguyễn Ngọc Minh A, sinh ngày 29/8/2017 và cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 01/10/2024, trong quá trình giải quyết bà Tuyền có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 03 con chung, hiện nay các con chung do bà Tuyền đang trực tiếp nuôi dưỡng, bên cạnh đó ông Hoàng vắng mặt tại phiên tòa nên không thể xác định được nguyện vọng của ông về con chung, trong biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Minh N và cháu Nguyễn Ngọc Minh A cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Vì vậy việc giao các cháu Nguyễn Minh N, Nguyễn Ngọc Minh A, Nguyễn Ngọc Minh K cho bà Nguyễn Thị Thanh T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp và đúng với quy định tại khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Ông Nguyễn H được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên ông Hoàng không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
3.3.Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Xét ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T.
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn H.
2.Về con chung: Có 03 con chung là cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 15/4/2015, cháu Nguyễn Ngọc Minh A, sinh ngày 29/8/2017 và cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 01/10/2024.
Giao cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 15/4/2015, cháu Nguyễn Ngọc Minh A, sinh ngày 29/8/2017 và cháu Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 01/10/2024 cho bà Nguyễn Thị Thanh T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Ông Nguyễn H được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên ông Hoàng không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
3.Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
4.Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003082 ngày 13/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đắk Lắk).
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. *Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Đắk Lắk;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa -VKSND khu vực 4-Đắk Lắk; -Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
(Đã ký) -UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ, TA.
H’ Năm Bkrông
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Trịnh Thị Oanh
H’Năm Bkrông *Nơi nhận:
| -TAND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND Tp. BMT; -Chi cục THADS Tp.BMT; -UBND xã Long Thạnh H.Giồng Riềng, Kiên Giang; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA H’ Năm Bkrông |