- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lò Văn V .
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ -ST Ngày 27 -8-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện và bà Lường Thị Khuyển.
- Thư ký phiên toà: Bà Cầm Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung (của Tòa án nhân dân huyện SM trước khi sáp nhập) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐST - HNGĐ ngày 15/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị N, sinh năm 1984, địa chỉ: Bản HN, xã CKH, tỉnh Sơn La, (trước đây là Bản HN, xã CKH, huyện SM , tỉnh Sơn La), vắng mặt có lý do.
Bị đơn: Anh Lò Văn V , sinh năm 1983, địa chỉ: Bản HN, xã CKH, tỉnh Sơn La, (trước đây là Bản HN, xã CKH, huyện SM , tỉnh Sơn La), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lò Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn V qua thời gian tìm hiểu, quen biết nhau, yêu thương nhau đã đăng ký kết hôn tại UBND xã CKH, huyện SM , tỉnh Sơn La. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, nhắc nhở nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau. Anh chị đã sống ly thân một thời gian, không còn yêu thương quan tâm đến nhau. Do vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị viết đơn này kính mong Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình sinh sống vợ chồng chị có có 02 con chung là: cháu Lò Thị Ngọc, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lò Thị Mai, sinh ngày 03/10/2019. Trong thời gian chị sống ly thân các cháu sống với ông bà nội tại bản HN, xã CKH, huyện SM , tỉnh Sơn La.
Nếu ly hôn chị Lò Thị N nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu, chưa yêu cầu anh Lò Văn V phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lò Văn V không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai theo yêu cầu của Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc thụ lý xây dựng hồ sơ vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hội đồng xét xử tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử đều thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị Lò Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lò Văn V vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lò Văn V . Giao các cháu Lò Thị Ngọc, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lò Thị Mai, sinh ngày 03/10/2019 cho chị Lò Thị N trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; anh Lò Văn V chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lò Thị N chưa yêu cầu. Về tài sản chung, tài sản riêng: không yêu cầu; về nợ chung: không có. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lò Thị N yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn V có địa chỉ tại Bản HN, xã CKH, huyện SM , tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết, nay Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La tiếp tục giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lò Thị N có đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn V được triệu tập hợp lệ vẫn cố tình không đến Tòa án căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Về quan hệ hôn nhân:
Lời khai của chị Lò Thị N và anh Lò Văn V phù hợp với nhau, phù hợp với kết quả xác minh và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để xác định anh chị có đăng ký kết hôn ngày 04/9/2020 tại UBND xã CKH, huyện SM , tỉnh Sơn La. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc nên hôn nhân giữa chị Lò Thị N và anh Lò Văn V là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tình trạng hôn nhân, nguyên đơn chị Lò Thị N khai: Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, nhắc nhở nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau. Anh chị đã sống ly thân một thời gian, không còn yêu thương quan tâm đến nhau nữa. Mặt khác, chị Lò Thị N cương quyết yêu cầu ly hôn đã chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị N và anh Lò Văn V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu, cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lò Văn V .
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lò Thị Ngọc, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lò Thị Mai, sinh ngày 03/10/2019. Trong thời gian anh chị sống ly thân cháu ở với ông bà nội và bố. Cháu Lò Thị Ngọc, sinh ngày 24/02/2016 trên 07 tuổi nhưng Tòa án không ghi được ý kiến do anh Văn và gia đình ngăn cản; cháu Lò Thị Mai, sinh ngày 03/10/2019 dưới 07 tuổi nên không ghi ý kiến. Hội đồng xét xử nhận thấy để đảm bảo cuộc sống về mọi mặt của người chưa thành niên, căn cứ vào thực tiễn của cuộc sống và nguyện vọng của chị Lò Thị N: Giao các cháu Lò Thị Ngọc, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lò Thị Mai, sinh ngày 03/10/2019 cho Lò Thị N trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lò Văn V chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lò Thị N chưa yêu cầu.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Lò Thị N là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn yêu cầu miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên cần chấp nhận theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, khoản 4 Điều 91; Điều 186, Điều 188; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15.
Căn cứ khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 56; 57; 58; 81; 82; 83; 84; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lò Văn V .
2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lò Thị Ngọc, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lò Thị Mai, sinh ngày 03/10/2019
Giao các cháu Lò Thị Ngọc, sinh ngày 24/02/2016 và cháu Lò Thị Mai, sinh ngày 03/10/2019 cho chị Lò Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lò Văn V chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lò Thị N chưa yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị N .
6. Về quyền kháng cáo: Anh Lò Văn V , chị Lò Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 3 – Sơn La; - Cơ quan THADS tỉnh Sơn La; - UBND xã CKH, tỉnh Sơn La; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mai |