vanban.org

Bản án 19/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Chấn H. Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Chấn H được ly hôn bà Hoàng Thị D Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Dương Chấn H yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với bà Hoàng Thị D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mạnh

2. Bà Trần Thị Thanh Thẩm

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân khu vực 3 – Đắk Lắk

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại Toà án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2025/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Chấn H, sinh năm 1993 – Có đơn xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn 8, xã E (xã X cũ), tỉnh Đắk Lắk

2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1996 - vắng mặt

Địa chỉ: Thôn 8, xã E (xã X cũ), tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Dương Chấn H trình bày:

Ông và bà Hoàng Thị D tự nguyện chung sống từ năm 2014, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã EaMang, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk ngày 19/9/2014, sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại Thôn 8, xã X, huyện C tỉnh Đắk Lắk, nay là Thôn 8, xã E, tỉnh Đắk Lắk, trong quá trình chung sống vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn. Đến tháng 01 năm 2017 bà D đã đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì, ông H đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không biết bà D hiện đang ở đâu. Ngày 16/5/2025 Tòa án nhân dân huyện CưMgar đã tuyên bố bà D mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2025/QĐST - DS. Xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể đoàn tụ chung sống, nguyện vọng của ông Dương Chấn H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn bà Hoàng Thị D.

Về con chung: Trong thời kỳ chung sống ông H và bà D có 02 con chung là Dương Hồng Đ, sinh ngày 11/3/2015 và Dương Chấn K, sinh ngày 08/10/2012. Hiện nay hai cháu đang ở với ông H nuôi dưỡng nên đề nghị Tòa án giao con chung cho ông H nuôi dưỡng, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Tòa án tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà Hoàng Thị D đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp và hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Chấn H. Ông Dương Chấn H được ly hôn bà Hoàng Thị D

Về con chung: Chấp nhận nguyện vọng của ông Dương Chấn H, giao cháu Dương Hồng Đ, sinh ngày 11/3/2015 và Dương Chấn K, sinh ngày 08/10/2012 cho ông Dương Chấn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.

Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Ông Dương Chấn H yêu cầu được ly hôn, giải quyết nuôi con chung với bà Hoàng Thị D nên quan hệ pháp luật trong vụ án là ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Trong quá trình tố tụng bà Hoàng Thị D có địa chỉ cư trú tại xã EaMnang, huyện CưMgar, tỉnh Đăk Lăk (nay là xã EaMdroh, tỉnh Đắk Lắk). Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Chấn H và bà Hoàng Thị D tự nguyện chung sống từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã EaMnang, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk ngày 19/9/2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông Dương Chấn H và bà Hoàng Thị D trong quá trình chung sống không phát sinh mâu thuẫn. Đến tháng 01 năm 2017 bà D đã đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì. Như vậy, hôn nhân của ông H và bà D vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của nguyên đơn ông Dương Chấn H, cho ông Dương Chấn H được ly hôn với bà Hoàng Thị D.

. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân H và bà D có 02 con chung là cháu Dương Hồng Đ, sinh ngày 11/3/2015 và Dương Chấn K, sinh ngày 08/10/2012 đang do ông Dương Chấn H trực tiếp nuôi dưỡng. Trên cơ sở nguyện vọng của ông H, cũng như nguyện vọng của hai cháu, cần giao con chung cho ông Dương Chấn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Ông Dương Chấn H không yêu cầu bà Hoàng Thị D phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

.Về án phí: Ông Dương Chấn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Chấn H.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Chấn H được ly hôn bà Hoàng Thị D

Về con chung: Giao cháu Dương Hồng Đ, sinh ngày 11/3/2015 và Dương Chấn K, sinh ngày 08/10/2012 cho ông Dương Chấn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Bà Hoàng Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về án phí: Ông Dương Chấn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005009 ngày 09/7/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Đắk Lắk.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ