- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13-8-2025 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hoàng Tua.
2. Ông Lương Công Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Tạ Bá Nhịn - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà á n nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 375/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/7/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Diễm T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số 282/15 khu vực Bình Chánh, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ – Nay là số a khu vực Bình Chánh, phường Long Tuyền, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: b khu vực 3, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - Nay là 29H/4 khu vực 3, phường Tân An, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Trần Quang T, sinh năm 1987. Địa chỉ: c khu vực Bình Chánh, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ - Nay là số c khu vực Bình Chánh, phường Long Tuyền, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Nguyễn Diễm T trình bày:
Bà Thúy và ông Trần Quang T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 16/6/2017. Trong thời gian chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông Thái nhiều lần gây nợ cho việc đá gà, bắt banh (từ 60.000.000 đồng đến 2 cây vàng đến 500.000.000 đồng).
Sau mỗi lần gây nợ ông Thái chỉ hứa hẹn chứ không cố gắng tu chí làm ăn và bỏ mặt bà Thúy gánh nợ. Chẳng những thế ông Thái còn nhiều lần ăn cắp tiền và vàng của con và vợ. Đến tháng 6/2024, bà Thúy và ông Thái đã chính thức sống ly thân không cùng một mái nhà. Nay tình cảm không thể hàn gắn bà Thúy yêu cầu được ly hôn cùng ông Trần Quang T, sau khi ly hôn bà Thúy mong muốn được quyền nuôi dưỡng 2 con.
Do đó, Bà Nguyễn Diễm T khởi kiện yêu cầu giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quang T.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Nhã Thư (nữ), sinh năm 11/11/2017 và Trần Duy Thức (nam), sinh năm 22/07/2022. Sau ly hôn, bà Thúy mong muốn được quyền nuôi dưỡng 2 con. Hiện 2 con đang sống cùng với bà Thúy. Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu. Theo tự khai của cháu Nhã Thư cũng xin ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn ông Trần Quang T trình bày: Vắng mặt không lý do suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt lần 2.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thúy. Về con chung: giao 02 con chung tên Trần Nhã Thư (nữ), sinh năm 11/11/2017 và Trần Duy Thức (nam), sinh năm 22/07/2022 cho bà Thúy nuôi dưỡng đến trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết thành vụ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Bà Nguyễn Diễm T có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Quang T. Trong quá trình chung sống có 02 con chung, về tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết, về nợ chung không có. Bị đơn có nơi cư trú tại 282/15 khu vực Bình Chánh, phường Long Tuyền, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ.
Về thủ tục: Bị đơn ông Trần Quang T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do và ông Trần Quang T không có yêu cầu phản tố. Tòa án áp dụng Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Nguyễn Diễm T:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/6/2017, số 68/2017 tại Ủy Ban Nhân Dân phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (Nay là Ủy Ban Nhân Dân phường Long Tuyền, thành phố Cần Thơ), được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức lễ cưới, thể hiện giữa nguyên đơn, bị đơn tiến đến hôn nhân xuất phát từ sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, quá trình chung sống, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống khá hạnh phúc nhưng thời gian sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, bất đồng trong suy nghĩ và quan điểm, mâu thuẫn ngày một trầm trọng và không thể hàn gắn. Do đó, bà Lam xin ly hôn với ông Trí.
Xét thấy, trong quan hệ hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp cho hôn nhân, cho hạnh phúc gia đình. Giữa nguyên đơn, bị đơn đã có thời gian quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương nhưng khi đã thành vợ chồng thì cả hai không hiểu nhau. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, bị đơn không phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không trực tiếp đến Tòa để tham gia hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiếp tục động viên bà Thúy tạo cơ hội vợ chồng đoàn tụ, nhưng bà Thúy vẫn kiên quyết ly hôn, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử xem xét.
Về con chung: Trong quá trình chung sống đã có 02 con chung tên Trần Nhã Thư (nữ), sinh năm 11/11/2017 và Trần Duy Thức (nam), sinh năm 22/07/2022. Sau ly hôn, bà Thúy mong muốn được quyền nuôi dưỡng 2 con. Cháu Nhã Thư cũng xin ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Hiện 2 con đang sống cùng với bà Thúy. Bà Thúy không yêu cầu ông Thái cấp dưỡng nuôi con. Xét 02 con chung đang ở cùng bà Thúy nên giao cho chị Thúy, tránh sáo trộn cuộc sống của 02 cháu là phù hợp. Hơn nữa, ông Thái cũng không có ý kiến gì về con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét nên không đề cập giải quyết. Ông Trần Quang T không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết, có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Diễm T phải chịu tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 271 và Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 19; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Diễm T. Bà Nguyễn Diễm T được ly hôn với ông Trần Quang T.
2. Về con chung: Trong quá trình chung sống đã có 02 con chung tên Trần Nhã Thư (nữ), sinh năm 11/11/2017 và Trần Duy Thức (nam), sinh năm 22/07/2022. Sau ly hôn, bà Thúy mong muốn được quyền nuôi dưỡng 2 con. Cháu Nhã Thư cũng xin ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Hiện 2 con đang sống cùng với bà Thúy. Bà Thúy không yêu cầu ông Thái cấp dưỡng nuôi con. Xét 02 con chung đang ở cùng bà Thúy nên giao cho chị Thúy, tránh sáo trộn cuộc sống của 02 cháu là phù hợp. Hơn nữa, ông Thái cũng không có ý kiến gì về con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở; Nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét nên không đề cập giải quyết. Ông Trần Quang T không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết, có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết thành vụ kiện khác.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Diễm T phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000125 ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (Nay là Phòng thi hành án Dân sự Khu vực 2 – Cần Thơ).
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND khu vực 2 – Cần Thơ; - Phòng THA DS khu vực 2 – Cần Thơ; - Các đương sự; - UBND phường Long Hòa (Nay là UBND phường Long Tuyền, thành phố Cần Thơ, số 68/2017, ngày 16/6/2017) - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Loan |