- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Khuất Thị Hồng T yêu cầu ly hôn với ông Phạm Hữu C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Khuất Thị Hồng T. Bà Khuất Thị Hồng T được ly hôn với ông Phạm Hữu C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ - ST Ngày 16 - 07 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
)
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
Trong ngày 16 tháng 07 năm 2025, tại trụ sở Tòa án khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 2839/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/12/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 12 tháng 06 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 319/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/06/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Khuất Thị Hồng T, sinh ngày 09/01/1995.
Số CCCD: ************; Cấp ngày : 16/02/2024
Địa chỉ: A, tổ S, KP B, phường H, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai).
2. Bị đơn: Ông Phạm Hữu C, sinh ngày 20/09/1994.
Số CCCD: ************; Cấp ngày
Địa chỉ: C, khu phố M, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai).
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Khuất Thị Hồng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Hữu C quen biết nhau 3 năm thì tiến tới hôn nhân, tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2027 tại Ủy ban nhân dân phường Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 146 ngày 14/9/2017. Sau khi kết hôn 02 vợ chồng về nhà bố mẹ chồng. Sống hạnh phúc với nhau đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn do ông C không có nghề nghiệp ổn định, không chăm lo gia đình, chơi bời lêu lỏng và có sử dụng hàng đá. Sau đó thường xuyên về gây sự đánh bà không lý do, mẹ vợ đến chơi cũng bị đánh. Do bị đánh thường xuyên bà bỏ về nhà mẹ đẻ ở đến nay. Ba đứa con hiện nay đang ở với ông C và ông bà nội do từ nhỏ đến lớn các bé đều ở với ông bà nội và đi học ở đây. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông C.
- Về con chung: Có 03 con chung là Phạm H, sinh ngày 06/01/2018; Phạm Băng D, sinh ngày 22/10/2019 và Phạm Thiên A, sinh ngày 03/9/2022. Ly hôn, bà xin giành quyền nuôi dưỡng cả 3 con. Tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà xin chịu tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Phạm Hữu C nhưng ông Phạm Hữu C không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Khuất Thị Hồng T và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời Phạm Hữu C đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Phạm Hữu C không đến Tòa án làm việc.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Khuất Thị Hồng T và ông Phạm Hữu C không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Khuất Thị Hồng T. Bà Khuất Thị Hồng T khai có 03 con chung là Phạm H, sinh ngày 06/01/2018; Phạm Băng D, sinh ngày 22/10/2019 và Phạm Thiên A, sinh ngày 03/9/2022. Ly hôn, bà xin giành quyền nuôi dưỡng cả 3 con, tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Cháu Phạm H có nguyện vọng ở với mẹ là bà Khuất Thị Hồng T. Bà Khuất Thị Hồng T khai tài sản chung không có và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Phạm Hữu C đã được thông báo các nội dung này nhưng không có ý kiến về con chung, tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cả 03 con cho bà Tiên trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, về tài sản chung và nợ chung đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Khuất Thị Hồng T và ông Phạm Hữu C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Phạm Hữu C hiện đang sinh sống tại thành phố Biên Hòa nên đơn xin ly hôn của bà Khuất Thị Hồng T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai).
Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai) đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Phạm Hữu C “Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”,“Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Phạm Hữu C vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Phạm Hữu C đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải được, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Phạm Hữu C cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Phạm Hữu C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Phạm Hữu C vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Hữu C theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà Khuất Thị Hồng T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung tranh chấp: Bà Khuất Thị Hồng T yêu cầu ly hôn với ông Phạm Hữu C. Về con chung bà Khuất Thị Hồng T khai Có 03 con chung là Phạm H, sinh ngày 06/01/2018; Phạm Băng D, sinh ngày 22/10/2019 và Phạm Thiên A, sinh ngày 03/9/2022. Ly hôn, bà xin giành quyền nuôi dưỡng cả 3 con. Tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không có và bà Khuất Thị Hồng T cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông Phạm Hữu C đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Phạm Hữu C không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Khuất Thị Hồng T và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy ông Phạm Hữu C và bà Khuất Thị Hồng T cuộc sống chung không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Ông Phạm Hữu C và bà Khuất Thị Hồng T đã sống riêng. Đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, bà Khuất Thị Hồng T và ông Phạm Hữu C không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải cho ông Phạm Hữu C để tiến hành hòa giải nhưng ông Phạm Hữu C không đến, cho thấy ông Phạm Hữu C không có thiện chí đoàn tụ với bà Khuất Thị Hồng T. Do vậy yêu cầu của bà Khuất Thị Hồng T về việc xin ly hôn với ông Phạm Hữu C là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Khuất Thị Hồng T khai có 03 con chung là Phạm H, sinh ngày 06/01/2018; Phạm Băng D, sinh ngày 22/10/2019 và Phạm Thiên A, sinh ngày 03/9/2022. Ly hôn, bà Khuất Thị Hồng T xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung. Do bà Khuất Thị Hồng T không yêu cầu nên ông Phạm Hữu C tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Phạm H có nguyện vọng ở với mẹ là bà Khuất Thị Hồng T. Ông Phạm Hữu C đã được Tòa án thông báo và triệu tập nhiều lần nhưng ông Phạm Hữu C vẫn không đến Tòa làm việc và cũng không có ý kiến về vấn đề nuôi con chung và cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giao cả 03 cháu Phạm H, sinh ngày 06/01/2018; Phạm Băng D, sinh ngày 22/10/2019 và Phạm Thiên A, sinh ngày 03/9/2022 cho bà Khuất Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Do bà Khuất Thị Hồng T không yêu cầu nên ông Phạm Hữu C tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Khuất Thị Hồng T khai không có và ông Phạm Hữu C không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung của bà Khuất Thị Hồng T và ông Phạm Hữu C trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà Khuất Thị Hồng T khai không có nợ chung và ông Phạm Hữu C không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Bà Khuất Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 119 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Khuất Thị Hồng T. Bà Khuất Thị Hồng T được ly hôn với ông Phạm Hữu C.
2. Về con chung: Giao cả 03 cháu Phạm H, sinh ngày 06/01/2018; Phạm Băng D, sinh ngày 22/10/2019 và Phạm Thiên A, sinh ngày 03/9/2022 cho bà Khuất Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Phạm Hữu C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Hữu C được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Bà Khuất Thị Hồng T khai không có và ông Phạm Hữu C không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.
4. Về nợ chung: Bà Khuất Thị Hồng T khai không có và ông Phạm Hữu C không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về nợ chung của bà Khuất Thị Hồng T và ông Phạm Hữu C trong vụ án này.
5. Về án phí: Bà Khuất Thị Hồng T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Khuất Thị Hồng T đã nộp theo biên lai thu số: 0004888 ngày 27/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (nay là Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai). Bà Khuất Thị Hồng T đã nộp đủ án phí.
Bà Khuất Thị Hồng T và ông Phạm Hữu C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đồng Nai; -VKSND khu vực 1 - Đồng Nai; -VKSND tỉnh Đồng Nai; -Các đương sự; -Thi hành án tỉnh Đồng Nai; -Lưu hồ sơ, Vp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Lê Hồng Ngọc |