vanban.org

Bản án 19/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Võ Văn C được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Võ Nhã P, sinh ngày 02/9/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Nhã P tròn 18 tuổi. Anh Võ Văn C chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị T-Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Võ Văn C được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 3 năm 2025
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Trường

2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993 (có mặt)

Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Chỗ ở hiện nay: số E, ấp Đ, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Võ Văn C, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Võ Văn C tự nguyện tổ chức đám cưới vào năm 2013. Đến năm 2015 thì đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/8/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống đầm ấm, hạnh phúc nhưng thời gian sau thì mâu thuân phát sinh không thể hàn gắn được, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2024 đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Nhã P, sinh ngày 02/9/2014, hiện cháu Nhã P đang sống với chị T. Chị T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn anh Võ Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn anh Võ Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T tự nguyện tổ chức đám cưới vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của đương sự thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tình cảm ngày lạnh nhạt, không còn tình cảm với nhau. Toà án đã triệu tập hợp lệ cho bị đơn, nhưng anh C vẫn không đến Toà án. Điều đó cho thấy anh C đã bỏ mặc cuộc hôn nhân của anh. Từ những nhận định trên cho thấy chị T, anh C mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T yêu cầu ly hôn là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Quá trình sống chung chị T và anh C có 01 người con chung tên Võ Nhã P, sinh ngày 02/9/2014, đang sống chung với chị T. Chị T có nguyện vọng được nuôi con. Qua xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy rằng từ khi chị T và anh C ly thân thì cháu N P sống chung với chị T và được chị T chăm sóc chu đáo. Hơn nữa cháu P có nguyện vọng sống chung với mẹ. Vì quyền lợi mọi mặt của cháu Nhã P, nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị T nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên anh C chưa phải cấp dưỡng nuôi con. [4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Võ Văn C được ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Võ Nhã P, sinh ngày 02/9/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Nhã P tròn 18 tuổi. Anh Võ Văn C chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu là 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã đóng theo biên lai số 0003455 ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị T đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ