- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị Cẩm T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Ch.
- Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11/4/2025 "V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Ái
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông Trần Quang Chử
2- Bà Nguyễn Thị Kim Huyền
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Lam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ân Thi
- Đại diện VKSND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ân Thi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2024/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn LT, xã TP, huyện QP, tỉnh NA (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn BK, xã BS, huyện ÂT, tỉnh HY (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Bảo A T, sinh ngày 05/10/2017 (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu A T: Anh Nguyễn Văn Ch – Là bố đẻ của cháu Thư.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Ch đã từng là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bãi Sậy, Ân Thi, Hưng Yên. Trong quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A T, sinh ngày 05/10/2017. Do mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên và đã có quyết định ly hôn vào ngày 31/3/2022, về vấn đề con chung: Chị T và anh Ch thống nhất để anh Ch tiếp tục nuôi con chung cho đến tuổi trưởng thành, chị T không phải cấp dưỡng và có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản, kể từ đó cháu Nguyễn Bảo A T về ở với anh Ch. Nay hoàn cảnh của anh Ch phải đi làm ăn xa không có mặt ở nhà và anh Ch đã giao cháu Thư cho bố mẹ chồng chị chăm sóc. Tuy nhiên nay bố mẹ chồng chị tuổi cao sức yếu không đủ điều kiện để nuôi dạy cháu Thư. Bên cạnh đó cháu Thư có khiếm khuyết về thể chất và tinh thần nên cần phải chăm sóc đặc biệt. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển tốt nhất cho cháu Thư. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Thư. Chị T không yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị.
Hiện nay chị mở quán đồ ăn vặt, ngoài ra kinh doanh thêm sim, bất động sản, thu nhập của chị là 30.000.000 đồng/tháng.
*Theo lời khai của bị đơn anh Nguyễn Văn Ch trình bày: Anh và cô T đã từng là vợ chồng nhưng đến năm 2022 do có mâu thuẫn, thống nhất thuận tình ly hôn, tại Quyết định số 26 ngày 31/3/2022. Khi ly hôn anh chị đã thống nhất thỏa thuận, anh Ch là người trực tiếp nuôi chăm sóc cháu Nguyễn Bảo A T, sinh ngày 05/10/2017 cho đến tuổi cháu đủ tuổi thành niên. Kể từ khi ly hôn anh vẫn đảm bảo nuôi con, chăm con tốt, cháu bị tăng động khi 4 tuổi cháu chưa biết nói, anh đã phải chạy chữa 2 năm cho cháu nhưng cô T thỉnh thoảng có điện gặp con một lần. Đến tháng 8/2024 tình trạng sức khỏe của cháu ổn định, có được sự đánh giá của các cô dạy bảo chữa trị cho cháu nên anh xin cho cháu học ở Trường tiểu học Bãi Sậy do cô Nho chủ nhiệm lớp. Kể từ khi học đến nay cháu tiến triển tốt. Nay cô T làm đơn đề nghị thay đổi người nuôi con anh Ch không đồng ý, anh nhận nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Vì khi ly hôn cô T không quan tâm con, để ý con, điều kiện cô T anh thấy đang nợ rất nhiều nơi, nợ cả Ngân hàng, nợ xấu. Còn về bản thân anh hiện nay đang làm ở Hà Nội, công ty SIMPLUS và kinh doanh ngoài, tổng thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng, hàng tuần, hàng tháng anh vẫn về với cháu. Tuy nhiên cháu vẫn được đảm bảo chăm sóc, trông nom tốt vì mẹ anh vẫn còn trẻ.
* Theo lời khai của bà Phan Thị Mến, sinh năm 1962 (là mẹ đẻ của anh Ch) trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Ch, còn T là con dâu của bà nhưng năm 2022 các cháu mâu thuẫn không ở được với nhau nên đã ra Tòa ly hôn. Sau khi ly hôn các cháu đã thống nhất để Ch nuôi con chung là cháu Nguyễn Bảo A T, sinh năm 2017 đến tuổi thành niên. Kể từ đó Ch nuôi cháu Thư, do cháu bị tự kỷ tăng động nên Ch nuôi con đã phải chạy chữa cho cháu 02 năm vì vậy cháu đã phải đi học muộn 01 năm, khi có đánh giá tốt của các cô giáo ở Hà Nội thì Ch mới xin học cho cháu ở quê vì hai bố con không có hộ khẩu thường trú ở Hà Nội nên xin học trái tuyến ở Hà Nội khó khăn, đến nay cháu học lớp 1 Trường tiểu học Bãi Sậy. Kể từ tháng 8/2024 cháu Thư về quê học và ở với chúng bà, còn Ch vẫn đi làm ở Hà Nội, cuối tuần về, nếu có công việc bận thì Ch đến cuối tháng mới về, kể từ khi cháu Thư về ở với anh Ch và bà thì T có về được 1 lần là lần bố bà mất, sau đó đón con đi chơi 1 hôm. Bà được biết T đã đến trường gặp hiệu trưởng và cô giáo của Thư để trình bày, thậm chí là đòi đón Thư nhưng nhà trường không đồng ý vì chỉ có Ch mới được đón hoặc phải có Ch ủy quyền, bà được Ch ủy quyền đón cháu. Sau mấy tháng học thì nhà trường đánh giá cháu Thư học tương đối tốt, tiến bộ. Do vậy, T đề nghị thay đổi ngườu nuôi cháu Thư từ Ch sang cho chị T, bà không đồng ý vì cuối năm 2022 bản thân Ch đã cho T đón cháu Thư về nuôi 1 tháng nhưng cháu không thể tiến trển gì thậm chí cháu còn diễn biến xấu đi. Ngoài ra bà còn được biết lý do T muốn nuôi con là mang về cho mẹ đẻ ở Nghệ An nuôi nhằm mục đích để mẹ đẻ cho đất.
* Theo lời khai, trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Bảo A T: Hiện nay cháu học lớp 1 Trường tiểu học Bãi Sậy do cô giáo Nho chủ nhiệm, hiện nay cháu đang ở với bố Ch và bà nội. Cháu có nguyện vọng ở với bố Ch và bà nội.
Tại phiên toà hôm nay:
- Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Thư từ anh Ch sang cho chị để chị có điều kiện tốt hơn chăm sóc cháu Thư vì anh Ch không trực tiếp chăm sóc cháu Thư mà để ông bà nội trông nom, chăm sóc, đến nay không cho dạy thêm nên chị có trình độ hơn anh Ch để chị dạy bảo cháu. Việc anh Ch có trình bày chị nợ ngân hàng và ngân hàng đang khởi kiện chị là đúng vì chị có vay tín chấp của Ngân hàng, chị có tiền trong tài khoản, không trả tiền Ngân hàng là để lấy tiền làm ăn. Nếu chị được nuôi con chị không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con cho chị.
- Anh Ch giữ nguyên quan điểm, nay cô T đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con anh không đồng ý vì trong suốt hai năm ở Hà Nội chị T không quan tâm, hỏi han gì cháu, hơn nữa chị T nợ nần nhiều người, nợ Ngân hàng đến nay Ngân hàng khởi kiện đòi tiền, vậy mà chị T trình bày đủ điều kiện tài chính nuôi cháu, nếu chị T trả tiền Ngân hàng, nợ nần cho người khác thì không còn tiền, nay cháu đang sinh sống ổn định, học tập tốt, anh không muốn xáo trộn học tập, sinh hoạt của cháu để ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu. Anh nhận nuôi con và anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con cho anh.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký: Đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48, 51 BLTTDS.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ viên quan người làm chứng: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đề xuất của Kiểm sát viên: Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử ap dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 58, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo A T, sinh năm 2017 cho anh Nguyễn Văn Ch; Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Ch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Thư từ anh Ch sang cho chị. Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn Ch có đăng ký nơi thường trú tại: thôn BK, xã BS, huyện ÂT, tỉnh HY, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng thẩm quyền.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét yêu cầu của chị T thì thấy, chị T và anh Ch đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 26/2022/QĐCNTTLH ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tại thời điểm ly hôn anh Ch, chị T thống nhất thỏa thuận để anh Ch tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Bảo A T, sinh năm 2017 đến tuổi thành niên. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Ch.
Xét thấy: Chị Nguyễn Thị Cẩm T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn vì lý do anh Ch đi làm ăn, không có mặt ở nhà, anh Ch giao con cho ông bà nội chăm sóc nhưng ông bà nội tuổi cao sức yếu không đủ điều kiện để nuôi dạy, bên cạnh đó cháu Thư có khiếm khuyết về thể chất, tinh thần và hiện nay chủ trương của Nhà nước không cho dạy thêm nên chị T cho rằng chị có trình độ hơn để dạy học cháu Thư.
Bị đơn là anh Ch không đồng ý với yêu cầu của chị T. Anh Ch cho rằng kể từ khi ly hôn chị T không thăm nom, chăm sóc con mặc dù cháu Thư bị tự kỷ chưa nói được, sau này cháu tiến triển tốt hơn anh cho cháu về học tại quê và giáo viên chủ nhiệm đánh giá cháu có nhiều tiến bộ, là cháu ngoan Bác Hồ. Chị T hiện đang bị Ngân hàng VPBank khởi kiện đòi tiền vay do quá hạn chưa trả, anh vẫn chăm sóc tốt cho cháu, có thu nhập ổn định nên anh Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị T cho rằng anh Ch và gia đình không tạo điều kiện cho chị T gặp con. Đồng thời, hiện nay môi trường học tập của cháu Thư không được tốt, trình độ của anh Ch không bằng chị T tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Ch đã tạo điều kiện cho chị T thăm con nhưng khi cháu đang học tập và điều trị tại Hà Nội chị T không thăm con, chăm sóc con, khoảng vài tháng nay chị T về đòi đưa cháu Thư đi khám nhưng anh Ch không cho vì cháu Thư vẫn phát triển bình thường, hè năm 2024 chị T còn đón cháu Thư về chơi với bà ngoại 01 tháng, chị T thừa nhận không thường xuyên thăm con vì lý do cuối năm 2022 chị đi nước ngoài đến cuối năm 2023 về nước và đón con về chơi nên không có căn cứ anh Ch không tạo điều kiện cho chị T thăm nom con.
Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Cháu Thư là trẻ có nhược điểm về thể chất, tinh thần, cháu bị tự kỷ thể tăng động từ nhỏ nhưng năm 2022 anh Ch, chị T ly hôn thống nhất để anh Ch trực tiếp nuôi dưỡng, thời điểm này anh Ch, chị T đều khẳng định cháu chưa nói được, sau khi ly hôn anh Ch đã điều trị cho cháu Thư tại Trung tâm giáo dục hòa nhập Happy Smile và anh Ch đã cho cháu vào học lớp 1 tại trường Tiểu học Bãi Sậy, căn cứ bản đánh giá quá trình can thiệp của Trung tâm và nhận xét, đánh giá quá trình học tập của giáo viên chủ nhiệm đều đánh giá cháu Thư tiến triển tốt, gia đình quan tâm chăm sóc con và đạt Giấy khen cháu ngoan Bác Hồ. Theo kết quả đánh giá của Trung tâm và nhà trường có căn cứ sau khi ly hôn anh Ch nuôi dưỡng, chăm sóc con chu đáo, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, được đi học, được yêu thương.
Xét về chỗ ở, đưa đón con: Chị T ở Hà Nội nhưng đi thuê nhà, còn anh Ch và cháu Thư ở cùng với bố mẹ đẻ, ngoài ra không còn anh chị em nào ở cùng. Mặc dù anh Ch đi làm nhưng cháu Thư vẫn được ông bà nội đưa đón, dạy bảo chu đáo căn cứ vào bản nhận xét, đánh giá quá trình học tập của cháu Thư do cô chủ nhiệm đánh giá về phần gia đình: Gia đình rất quan tâm chăm sóc con. Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập cho con. Trang phục, vệ sinh cá nhân luôn gọn gàng, sạch đẹp. Phụ huynh thường xuyên trao đổi về học tập cũng như sức khỏe của con khi ở trường và ở nhà. Vì vậy, chị T đưa lý do anh Ch không trực tiếp chăm sóc cháu Thư nên không đảm bảo phát triển của cháu Thư là không có căn cứ.
Xét điều kiện kinh tế: Theo hợp đồng lao động số 0109/2024/HĐLĐ- VTSP ngày 01/9/2024 được ký giữa công ty TNHH Viễn thông Simplus và anh Ch thể hiện anh Ch đang làm việc tại công ty, mức lương anh Ch hàng tháng được hưởng theo bảng lương anh Ch cung cấp gần 10.000.000 đồng. Ngoài ra anh Ch còn cung cấp tài khoản Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam có số dư tính đến ngày 05/1/2025 là 106.449.560 đồng và anh Ch còn làm thêm ngoài bằng việc bán sim. Tổng thu nhập hàng tháng của anh khoảng 20.000.000 đồng. Với mức thu nhập này anh Ch hoàn toàn đảm bảo tốt về mọi mặt chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Thư cho đến khi cháu thành niên. Chị T có trình bày chị mở quán, kinh doanh sim, bất động sản thu nhập của chị là 30.000.000 đồng/ tháng, chị T còn cung cấp cho Tòa án giấy xác nhận số dư tài khoản/tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng MB xác nhận có tiền gửi ngày 24/12/2024 là 51.338.334 đồng, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam xác nhận đang có số dư tiền gửi ngày 23/12/2024 là 500.000.000 đồng và số dư tiền gửi ngày 27/12/2024 là 600.000.000 đồng, tuy nhiên anh Ch có cung cấp cho Tòa án thông báo khởi kiện của Ngân hàng VPBank đối với chị T số tiền tạm tính đến ngày 02/11/2022 là 529.052.419 đồng, tại phiên tòa chị T thừa nhận vẫn chưa thanh toán được số tiền nợ Ngân hàng nhưng chị khẳng định chị hoàn toàn có đủ điều kiện để thanh toán vì là khoản vay tín chấp nên chị T để tiền làm ăn.
Xét điều kiện kinh tế của hai bên: Chị T có cung cấp cho Tòa án xác nhận số dư tiền gửi tại các tài khoản ở Ngân hàng chứ chị T chưa cung cấp được các chứng cứ chứng minh thu nhập hằng tháng của mình. Anh Ch có thu nhập ổn định hơn chị T, hàng tháng đều có lương cố định là hơn 10.000.000 đồng. Đặc biệt khi ly hôn cháu Thư bị tự kỷ còn chưa nói được, một mình anh Ch chăm sóc, chữa trị đến nay cháu Thư đã có nhiều tiến bộ về sức khỏe, tinh thần và học tập. Quá trình giải quyết vụ án cháu Thư có nguyện vọng được ở với anh Ch, tại phiên tòa cháu Thư trình bày ở với cả bố và mẹ. Từ những nội dung nhận định trên và căn cứ khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong những căn cứ sau đây: “... Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con...” Xét thấy anh Ch có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt, đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con, để tránh xáo trộn trong học tập, sinh hoạt của cháu, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho anh Ch tiếp tục nuôi dưỡng cháu đến tuổi thành niên. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm T.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Ch không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1- Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị Cẩm T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Ch.
Giao cho anh Ch tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Bảo A T, sinh ngày 05/10/2017 cho đến tuổi thành niên. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Ch. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0001415 ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi. Chị T đã nộp đủ.
3- Về quyền kháng cáo: Chị T, anh Ch có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA - TAND tỉnh; - VKS + THA huyện; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊNTOÀ Hoàng Thị Ái |