- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Trọng K . Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên)
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2025/HNGĐ-PT Ngày: 26 - 8 - 2025 V/v “Ly hôn, chia tài sản chung". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Văn Giang
Bà: Lê Thị Hồng Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Miên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Lương Dương Tùng Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2025/HNGĐ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, chia tài sản chung ”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên) bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:21/2025/QĐXX-HNGĐPT ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L , sinh năm 1995 (Có mặt)
Địa chỉ: Xóm L, xã P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn: Anh Vũ Trọng K , sinh năm 1990 (Có mặt)
Địa chỉ: TDP D, phường V, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người kháng cáo: Anh Vũ Trọng K là nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Trọng K đăng ký kết hôn năm 2014. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, sau đó quan hệ vợ chồng rạn nứt do thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Hai vợ chồng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 178/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố Phổ Yên), tỉnh Thái Nguyên. Tại quyết định ly hôn, phần con chung, anh K là người trực tiếp nuôi con chung là Vũ Quang Minh, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2015 và Vũ Minh Ngọc, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2018. Tuy nhiên trong thời gian nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, anh K không đảm bảo việc ăn học và làm ảnh hưởng đến tâm lý cho hai con, anh K làm nghề lái xe tự do, nên thường xuyên phải đi chở khách, không có thời gian ở nhà với hai con, thậm chí có ngày chạy xe đi xa và không về nhà với con được. Trong khi đó chị muốn thăm nom và đón các con về ngoại chơi thì anh K luôn lấy lý do con đi học (nhưng thực tế con được nghỉ học), anh K còn có những lời lẽ thiếu tế nhị, xúc phạm đến chị. Khi ly hôn hai bên thỏa thuận tạm thời chị không cấp dưỡng nuôi con, nhưng khi chị muốn thăm nom hoặc đón các con đi chơi thì anh K nói chị không chu cấp tiền thì không cho đón hai con. Hiện tại thu nhập của chị trung bình 9.000.000 đồng/1 tháng, chị có chỗ ở ổn định (ở với mẹ đẻ). Nay chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Minh Ngọc, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2018 và được quyền đi lại thăm non, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Quang Minh, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2015 mà không bị cản trở.
- Về án phí: Chị tự nguyện nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Vũ Trọng K trình bày:
Anh xác nhận thông tin về thời gian kết hôn, ly hôn như chị L trình bày là đúng. Giữa anh và chị L có hai con chung là cháu Vũ Quang Minh, sinh ngày 12 tháng 5 năm 2015 và Vũ Minh Ngọc, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2018. Hiện nay, anh là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung, không đề nghị chị L cấp dưỡng. Nay chị L đề nghị thay đổi nuôi con đối với cháu Vũ Minh Ngọc, anh không đồng ý bởi những lý do sau: Thứ nhất, từ khi ly hôn đến nay anh vẫn đảm bảo việc nuôi con, các con vẫn phát triển tốt, các cháu vẫn học hành đảm bảo. Thứ hai, thu nhập của anh dao động từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng/tháng, ngoài ra còn có bố mẹ và vợ mới của anh chăm sóc các cháu. Thứ ba, anh không cấm việc chị L thăm nom các con, nhưng anh không đồng ý chị L đến nhà anh mà chỉ được gặp các con ở trường, chơi với con, không được đón về nhà ngoại để đảm bảo việc học hành các cháu.
Với nội dung trên, tại bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên) đã xét xử và quyết định:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Vũ Trọng K .
[2]. Về con chung:
2.1. Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Minh Ngọc (sinh ngày 09/11/2018, giới tính: Nữ) cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh K được quyền đi lại thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung không bị cản trở.
2.2. Anh Vũ Trọng K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Quang Minh (sinh ngày 12/5/2015, giới tính: Nam), đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Chị L được quyền đi lại thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung không bị cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L , anh K không yêu cầu, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh K , chị L đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/6/2025 bị đơn anh Vũ Trọng K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên). Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết lại bản án sơ thẩm, yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Vũ Minh Ngọc, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2018.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và các ý kiến trình bày tại cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án hôn nhân sơ thẩm số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên), giao cháu Vũ Minh Ngọc, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2018 cho chị L nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về án phí phúc thẩm: Anh K phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2.] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn anh Vũ Trọng K , Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vũ Trọng K không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc giao con chung là cháu Vũ Minh Ngọc cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh K đã kháng cáo bản án sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, anh giữ nguyên toàn bộ nội dung kháng cáo, không đồng ý giao cháu Ngọc cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và cho rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là không cần thiết, có thể gây xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng đến tâm lý và sự ổn định của cháu Ngọc.
Hội đồng xét xử nhận thấy, cả hai bên đương sự đều có mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc, đồng thời đều là người có điều kiện kinh tế ổn định, bảo đảm cơ bản về vật chất và tinh thần cho việc nuôi con. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cháu Vũ Minh Ngọc còn nhỏ tuổi, lại là con gái, trong giai đoạn phát triển đặc biệt (tuổi dậy thì) cần sự chăm sóc, quan tâm từ người mẹ cả về thể chất lẫn tâm lý. Anh K hiện nay đã lấy vợ mới và vợ mới đang có thai. Việc giao cháu Ngọc cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp với lợi ích chính đáng của cháu, phù hợp với thực tiễn tâm lý lứa tuổi và đảm bảo quyền được sống trong môi trường tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ em theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của con phải đánh giá khách quan, toàn diện các tiêu chí sau đây:
“Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột”
Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi
……..
Do đó, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc giao cháu Vũ Minh Ngọc cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và đảm bảo lợi ích tốt nhất cho con chung.
. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Vũ Trọng K , cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên)
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
. Án phí ly hôn phúc thẩm: Do kháng cáo của anh Vũ Trọng K không được chấp nhận nên anh K phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp.
. Các nội dung của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
2. Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Trọng K . Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên)
2.1. Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Minh Ngọc, sinh ngày 09/11/2018 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung là cháu Vũ Quang Minh sinh ngày 12/5/2015 cho anh Vũ Trọng K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
2.2. Án phí ly hôn phúc thẩm: Anh Vũ Trọng K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn phúc thẩm nộp sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000006 ngày 04/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên
Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên) có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND khu vực 2; - THADS tỉnh Thái Nguyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Quang Huy |