- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị N và anh M"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/ST-HNGĐ Ngày 30/01/2024 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Xuân Thanh; Bà Phạm Thị Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị Hoài N - sinh năm 1996 – có mặt.
- Bị đơn: Anh Lƣơng Văn M - sinh năm 1994 - vắng mặt.
Đều có đỉa chỉ: Bản Cam, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Vi Thị Hoài N trình bày: Chị Vi Thị Hoài N và anh Lương Văn M kết hôn vào ngày 02/6/2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu xẩy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, anh M không quan tâm đến gia đình, và sa vào tệ nạn ma túy, mặc dù đã đi cai nghiện theo Quyết định của Tòa án, nhưng sau khi về nhà lại tiếp tục tái nghiện, thường xuyên tụ tập uống rượu, mặc dù đã được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải, khuyên nhủ nhiều lần và hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống có quá nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng lẫn nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị N làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Văn M. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 người con chung Lương Duy K - sinh ngày 18/9/2014; Lương Thị Hảo V - sinh ngày 27/3/2017; Lương Duy A - sinh ngày 23/12/2019. Hiện tại cả 03 người con đang sống cùng chị N, nếu ly hôn chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh Lương Văn M phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Vi Thị Hoài N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị N không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Lương Văn M đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vi Thị Hoài N. Cho chị Vi Thị Hoài N được ly hôn với anh Lương Văn M và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao 03 người con chung Lương Duy K, Lương Duy A và Lương Thị Hảo V cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Bản C, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Vi Thị Hoài N và anh Lương Văn M tại UBND xã C, huyện C cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị N và anh M sinh sống tại bản Cam, xã C, huyện C, hiện tại anh M không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh M không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng.Tại biên bản lấy lời khai bà Lương Thị N1 – Trú tại Bản C, xã C, huyện C là mẹ đẻ của anh Lương Văn M cho biết, sau khi anh M và chị N kết hôn thì sống tại gia đình bà N1, nhưng do anh M bị bạn bè xấu rủ rê nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, gia đình cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại xích mích, mâu thuẫn, hiện tại anh M đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà còn địa chỉ cụ thể thì bà N1 không biết, bà N1 cũng đã nhận các văn bản của Tòa án đến tống đạt cho anh M và cam đoan sẽ thông báo và khuyên nhủ anh M về giải quyết ly hôn theo quy định pháp luật.
Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lương Văn M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lương Văn M theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lương Văn M không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị Vi Thị Hoài N và anh Lương Văn M có đăng ký kết hôn vào ngày 02/6/2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị Hoài N và anh Lương Văn M là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị N và anh M phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị N và anh M đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh Lương Văn M vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị N và anh M xẩy ra nhiều mâu thuẫn và đã ly thân từ 2022 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh M không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh M không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Vi Thị Hoài N và anh Lương Văn M không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn cho chị Vi Thị Hoài N được ly hôn với anh Lương Văn M.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 người con chung Lương Duy K - sinh ngày 18/9/2014; Lương Thị Hảo V - sinh ngày 27/3/2017; Lương Duy A - sinh ngày 23/12/2019. Hiện tại cả 03 người con đang sống cùng chị N, nếu ly hôn chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh Lương Văn M phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh M không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh M nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị N là chính đáng, cháu Lương Duy K có nguyện vọng được sinh sống cùng với mẹ, cháu Lương Thị Hảo V; Lương Duy A đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao 03 người con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi,trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Vi Thị Hoài N và anh Lương Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Vi Thị Hoài N phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vi Thị Hoài N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Hoài N được ly hôn với anh Lương Văn M. Chị Vi Thị Hoài N và anh Lương Văn M chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 03 người con chung Lương Duy K - sinh ngày 18/9/2014; Lương Thị Hảo V - sinh ngày 27/3/2017 và Lương Duy A - sinh ngày 23/12/2019 cho chị Vi Thị Hoài N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Anh Lương Văn M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Vi Thị Hoài N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000528 ngày 24/11/2023.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã C; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lữ Thị Dung |