- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương - tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm c khoản 1 điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự * Tuyên bố
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HSST. Ngày: 20/ 3 /2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh H tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã M, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Quang V, sinh năm 1989 tại H; Hộ khẩu thường trú: Phố Nh, thị trấn Nh, huyện Văn Lâm, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; Dân tộc kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Lê Quang D (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị D (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H – Sinh năm 1987 (đã ly hôn) có 01 con, sinh năm 2009.
Tiền án: Không có
Tiền sự: Ngày 31/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 05/01/2023.
Nhân thân: Ngày 27/3/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024, tạm giam từ ngày 09/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên toà.
* Người làm chứng:
1- Đỗ Văn D – Sinh năm 1993
2- Cao Thị Ph – Sinh năm 1951
Đều địa chỉ: Tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh H
3- Đỗ Văn Q – Sinh năm 1989
Địa chỉ: Ng, xã T, huyện Văn Lâm, tỉnh H
4- Nguyễn Thị H – Sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện Gia Lâm, tỉnh H
(Toàn bộ người làm chứng đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài hiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/01/2024 Lê Quang V sử dụng điện thoại Oppo F5, vỏ máy màu đỏ, bên trong lắp 01 sim thuê bao số 0879136024, sử dụng tài khoản facebook tên “Quang V” liên lạc với đối tượng tên Tuân (không rõ họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể) thông qua tài khoản facebook của Tuân tên “Quang Huy”. Tuân nói với V có pháo hoa nổ để bán với giá 500.000 đồng/ hộp. Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán nên V đã hỏi mua pháo hoa nổ của Tuân. Sau đó, V nhắn tin cho Tuân qua ứng dụng facebook với nội dung “chốt tối 6dan”- tức là chốt lấy 6 dàn pháo. Đến sáng ngày 04/01/2024, V dùng diện thoại của mình gọi cho Tuân qua số điện thoại 0383307696 thì Tuân nói chỉ còn 5 hộp pháo để bán với giá 2.500.000 đồng thì V đồng ý và hẹn chiều tối ngày 04/01/2024 sẽ nhận pháo hoa nổ và thanh toán tiền tại tổ dân phố Bần, phường B, thị xã M, tỉnh H
Chiều tối ngày 04/01/2024, V điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda wave RSX màu sơn đỏ, biển số đăng ký 30Z9 – 7244 đi đến nhà anh Đỗ Văn Q nhờ anh Q chở đi có việc. Sau đó, anh Q điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 30Z9 – 7244 chở V đến cầu vượt xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh H, V điện thoại cho Tuân qua số điện thoại 0383307696. Tuân điều khiển xe mô tô đến chở V xuống khu vực đường Quốc lộ 5A dưới chân cầu vượt thuộc địa phận tổ dân phố Bần, phường B, thị xã M, tỉnh H. V đưa cho Tuân số tiền 2.500.000 đồng để mua pháo hoa nổ, Tuân nhận tiền rồi chở V quay lại chỗ anh Q đang đứng đợi, Tuân điều khiển xe mô tô đi trước, dẫn đường cho anh Q chở V đi đến Ng tổ dân phố Bần, phường B, thị xã M, Tuân bảo V vào Ng lấy pháo hoa nổ để ở ngôi mộ màu xanh, rồi Tuân điều khiển xe đi về. V đi vào Ng tổ dân phố Bần thấy ở ngôi mộ màu xanh có 01 bao tải dứa màu trắng, biết đây là pháo hoa nổ nên đã mang ra chỗ anh Q đang đỗ xe đứng đợi, để bao tải dứa bên trong đựng pháo hoa nổ ở giá để hàng của xe rồi ngồi lên phía sau xe và bảo anh Q điều khiển xe chở đi về.
Khi đi đến đoạn đường trước cửa nhà bà Cao Thị Ph thì bị Công an thị xã M phối hợp với Công an phường B kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Vât chứng thu giữ gồm: 01 bao dứa màu trắng, có in chữ “THÀNH PHÁT” màu đỏ, bên trong gồm: 01 hộp màu tím, có in chữ nước ngoài, kích thước (14,5 x14,5 x15)cm; 02 hộp màu đỏ. có in chữ nước ngoài, kích thước (14,5 x14,5 x15)cm; 02 hộp màu xanh, có in chữ nước ngoài, kích thước (14x14x10)cm, tất cả được niêm phong ghi ký hiệu “M”, V khai đây đều là pháo hoa nổ của V, cất dấu để sử dụng. Ngoài ra, còn quản lý của V 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave RSX màu sơn đỏ, biển số đăng ký 30Z9 – 7244 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ máy màu đỏ; quản lý của anh Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ máy màu xanh; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo, vỏ máy màu xanh đen.
Cùng ngày 29/12/2022, Cơ quan CSĐT – Công an thị xã M đã tiến hành khám xét nơi ở của V nhưng không thu giữ được gì.
Tại bản kết luận giám định số 44/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H kết luận: Mẫu vật gồm 05 (năm) vật hình hộp chữ nhật, bên trong gồm các vật hình trụ tròn được kết dính với nhau thành giàn trong niêm phong ký hiệu “M”, có tổng khối lượng là 6,50kg (sáu phẩy năm không kilogam), là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ). Hoàn lại mẫu vật trong một thùng catton ghi số 44/KL-KTHS, bên trong có 6,00kg (sáu phẩy không không kilogam) pháo, loại pháo hoa nổ và 01 bao dứa. Mẫu vật được hoàn lại hiệu đang được bản quản tại kho vật chứng của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.
Quá trình điều tra đã tiến hành ra soát camera tại khu vực V giao dịch mua bán pháo hoa nổ với Tuân và rà soát đối tượng tại xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ, tỉnh H nhưng không có ai có đặc điểm như V khai nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với số điện thoại 03383307696 mà Tuân sử dụng liên lạc với V, qua tra cứu xác định chủ đăng ký thuê bao là bà Trịnh Thị Lạ, sinh năm 1958, nơi thường trú ở thôn Cảnh Lâm, xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ, tỉnh H. Quá trình điều tra, xác định bà Lạ bị tai biến, nằm liệt giường, không nhận thức, điều khiển được hành vi, bà Lạ không đăng ký và sử dụng số điện thoại 03383307696. Do vậy không có căn cứ để xử lý.
02 điện thoại đã thu giữ của anh Q quá trình điều tra đã làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q 02 chiếc điện thoại và không xem xét xử lý đối với anh Q.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave RSX màu sơn đỏ, biển số 30Z9 – 7244 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H đã cho V mượn không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H.
Tại quyết định truy tố số: 17/QĐ-VKSMH ngày 16/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị Lê Quang V về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/01/2024.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Vụ án được điều tra và truy tố có đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.
- Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ; phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: “Ngày 04/01/2024 tại khu vực tổ dân phố Bần, phường B, thị xã M, tỉnh H, Lê Quang V đã có hành vi tàng trữ trái phép 6,50kg (sáu phẩy năm không kilogam), pháo nổ (pháo hoa nổ) thì bị phát hiện bắt quả tang. Viện kiểm sát thị xã M đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là chính xác và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các loại pháo nổ, ảnh hưởng đến trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người trưởng thành có khả năng nhận thức rõ việc tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành. Bị cáo có tiền sự: Ngày 31/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 27/3/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản không lấy làm bài học để cải tạo tu dưỡng. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, làm bài học cho các hành vi khác tương tự có thể xảy ra.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng hình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bố mẹ bị cáo là người có công với nhà nước và được hưởng chế độ với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
-Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản nên sẽ miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo của anh Đỗ Văn Q và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave RSX, biển số 30Z9 – 7244 của chị Nguyễn Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q và chị H, anh Q và chị H không có yêu cầu đề nghị gì nên không xét.
- Số pháo nổ thu giữ hoàn lại sau giám định được cơ quan điều tra đã chuyển đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh H sẽ cho tiêu huỷ theo qui định của pháp luật.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại F5, vỏ máy màu đỏ, bên trong lắp 01 sim bị cáo dùng vào việc liên lạc giao dịch phạm tội nên sẽ cho tịch thu sung quĩ nhà nước và tiêu huỷ sim điện thoại.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ: Điểm c khoản 1 điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
* Xử phạt: Bị cáo Lê Quang V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/01/2024.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 46; điểm a,c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại F5, vỏ máy màu đỏ, số Imei 1:867816031291231; Imei 2: 867816031291223.
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại.
- Tịch thu tiêu huỷ 6,00kg (Sáu phẩy không không kilôgam) pháo, loại pháo hoa nổ và 01 bao dứa hoàn lại sau giám định(Hiện đang được bảo quản ở kho vật chứng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H)trong 01 thùng catton ghi số 44/KL – KTHS.
(Tình trạng đặc điểm các vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2024 tại Chi cục thi hành án thị xã M và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2024 tại kho vật chứng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H).
* Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Quang V phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H (gửi qua P.KTNV & THAHS); - VKSND thị xã M; - Cơ quan CSĐT -CA thị xã M; - Cơ quan T.H.A HS-CA thị xã M; - Chi cục T.H.A DS thị xã M; - Các bị cáo; - Lưu HS vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tân Huyền |