vanban.org

Bản án 19/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo PQE và bị cáo NTĐ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo PQE 04 (bốn) tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PQE + đb cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày: 23 - 01 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Lê Thị Thiện

- Bà Phạm Thị Bé

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 379/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

1. PQE, sinh năm 1995 tại An Giang; thường trú: Khóm VL, thị trấn VB, huyện CT, tỉnh TG; tạm trú: Phòng trọ số 72, số 01/109D khu phố HL2, phường TG, thành phố TA, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông PVL, sinh năm 1967 và bà NTH, sinh năm 1969, vợ VTMD, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/7/2023, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. NTĐ, sinh năm 2000 tại An Giang; thường trú: Ấp VTA, xã VH, thị xã TC, tỉnh AG; tạm trú: 39/48 KP3, phường LX, thành phố TĐ, Thành phố H; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông NTS, sinh năm 1979 và bà NTT, sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/7/2023, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: LVN, sinh năm 1997; thường trú: Thôn 1B, xã ES, huyện BH, tỉnh Đ; tạm trú: Ô49A/DC10, KP 4, phường AP, thành phố TA; tỉnh B, có yêu cầu giải quyết mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ NTT, sinh năm 1978; thường trú: Khóm VT A, xã VH, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt.

+ NTH, sinh năm 1969; thường trú: Khóm VL, thị trấn VB, huyện CT, tỉnh TG, vắng mặt.

+ VTMD, sinh năm 1996; thường trú: Ấp VP xã VH, huyện CT, tỉnh AG, vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ LBNhỏ, vắng mặt.

+ Y H N, vắng mặt.

+ HMN, vắng mặt.

+ NVH, vắng mặt.

+ TMT, vắng mặt.

+ PQS, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/7/2023, PQE và NTĐ ngồi ăn uống tại phòng trọ địa chỉ số 1/190D, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Trong lúc ăn uống, E kể cho Đ biết trước đó khoảng 01 tuần, E bị LVN và tên H làm bên xưởng 2 cùng công ty đánh. E rủ Đ đi tìm N và H đánh để trả thù thì Đ đồng ý. Sau đó, Đ liên lạc với ông LBN cùng làm chung công ty để hỏi xem ông N đang ăn uống ở đâu mục đích tìm N và H để đánh, E biết N thường ăn uống chung với N và H. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, E giấu 01 con dao bằng kim loại, dài 48cm vào trong áo khoác rồi ngồi lên xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đỏ đen, biển số: 67C1-751.93 để Đ điều khiển chở đến phía trước quán ăn Vườn Nhãn địa chỉ khu phố Đông Nhì, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Tại đây, E nhìn thấy N và H đang ngồi ăn uống chung với nhóm bạn trong quán nên Đ chở E qua bên kia đường, phía trước quán trà sữa để ngồi chờ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô loại Exciter màu xanh trắng chở 01 nam thanh niên rời khỏi quán. Tiếp theo, E nhìn thấy N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius, màu xanh trắng biển số: 47C1-312.90 từ trong quán chạy ra đường Đông Nhì về hướng đường Nguyễn Văn Tiết nên E nói Đ điều khiển xe mô tô chạy theo sau. Khi Đ chở E chạy đến trước gara ô tô Tiến Phát địa chỉ 28/1, khu phố Đông Nhì, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì đuổi kịp N, E ngồi sau cầm con dao bằng kim loại chém 01 nhát vào lưng của N gây thương tích, cả hai chạy xe mô tô về phòng trọ. Đến ngày 08/7/2023, PQE, NTĐ đến Đồn Công an khu công nghiệp Vsip đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 503/2023/KLGĐ-TTPY ngày 28/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Dương kết luận bị hại LVN như sau: Vết thương phức tạp vùng lưng khoảng liên sườn 9-10 bên trái 18x0,6cm, thấu ngực thủng cơ hoành trái, thủng nhu mô phổi trái, đã phẫu thuật khâu cơ hoành, khâu mu mô phổi, sẹo dẫn lưu màng phổi trái 2x0,1cm, sẹo lành.

Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của: LVN tại thời điểm giám định là: 29% (Hai mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Vật chứng thu giữ: 02 (hai) USB ghi nhận vụ án Cố ý gây thương tích; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đỏ đen, biển số: 67C1-751.93; 01 (một) con dao bằng kim loại, dài 48cm, cán bằng gỗ màu vàng.

Cáo trạng số 04/CT-VKS-TA ngày 21/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo PQE và NTĐ về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo PQE mức hình phạt từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo NTĐ mức hình phạt từ 03 (ba) năm 09 (chín) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đỏ đen, biển số: 67C1-751.93, số khung: MH1KF4127LK013524, số máy: KF41E-2017619 do PQE đứng tên trên giấy đăng ký xe và sử dụng làm phương tiện phạm tội, đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) con dao tự chế có đặc điểm vỏ bằng gỗ màu vàng , dài 33cm, cán com dao dài 17cm bằng gỗ màu gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng đầu lưỡi dao nhọn dài 31cm sử dung vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 (hai) USB ghi nhận vụ án Cố ý gây thương tích đã được trích xuất hình ảnh được lưu vào hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại LVN có đơn xin bãi nại và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm về chi phí điều trị thương tích nên không xem xét.

- Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ý kiến bị hại LVN: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà NTT, NTH không có ý kiến gì và không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho các bị cáo.

- Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà VTMD: Không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Quá trình tố tụng và tại phiên toà các bị cáo PQE và NTĐ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/7/2023, tại trước gara ô tô Tiến Phát địa chỉ số 28/1, khu phố Đông Nhì, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, NTĐ điều khiển xe mô tô biển số 67C1-751.93 chở PQE cầm hung khí là 01 con dao bằng kim loại chém trúng lưng của bị hại LVN gây thương tích với tỷ lệ 29%. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị, các bị cáo hiểu rõ khi dùng dao để chém vào lưng bị hại thì khả năng gây tổn hại sức khỏe cho bị hại là rất cao. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo QE là người đề xuất thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ là người giúp sức, chở bị cáo QE đi tìm bị hại để bị cáo QE chém bị hại, do đó vai trò của bị cáo QE cao hơn bị cáo Đ.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đầu thú và đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo PQE có ông bà nội là người có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị xử phạt các bị cáo mức hình phạt như trên là phù hợp nên chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại LVN không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đỏ đen, biển số: 67C1-751.93, số khung: MH1KF4127LK013524, số máy: KF41E-2017619 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 67C1-751.93 do PQE đứng tên trên giấy đăng ký xe và sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) con dao tự chế có đặc điểm vỏ bằng gỗ màu vàng , dài 33cm, cán com dao dài 17cm bằng gỗ màu gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng đầu lưỡi dao nhọn dài 31cm sử dung vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 (hai) USB ghi nhận vụ án Cố ý gây thương tích đã được trích xuất hình ảnh được lưu vào hồ sơ vụ án.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo PQE và bị cáo NTĐ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo PQE 04 (bốn) tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2023.

Xử phạt bị cáo NTĐ 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đỏ đen, biển số: 67C1-751.93, số khung MH1KF4127LK013524, số máy KF41E-2017619 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 67C1-751.93

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao tự chế có đặc điểm vỏ bằng gỗ màu vàng , dài 33cm, cán com dao dài 17cm bằng gỗ màu gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng đầu lưỡi dao nhọn dài 31cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2023).

3. Về án phí: Buộc bị cáo PQE, NTĐ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ