- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày 18-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thế Hải
2. Ông Nguyễn Văn Tòng
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 04/01/2024 đối với bị cáo:
Lê Anh D1 - Sinh năm 1990
Nơi cư trú: Tổ dân phố Thanh Đ, phường H Th, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Anh Ngh và bà Nguyễn Thị L, vợ con chưa có.
Tiền án: Ngày 19/8/2021, bị TAND thị xã Nghi Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2021/HS-ST. D chấp hành xong Bản án ngày 02/5/2022.
Tiền sự: Không.
Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 30/10/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Nghi Sơn.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Đặng Văn D1, sinh năm 1992, địa chỉ: Tổ dân phố Thanh Đ,
phường H Th, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Hoàng Ch, sinh năm
1982, địa chỉ: Tổ dân phố T Ph, phường HB, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 27/10/2023, Lê Anh D1 đi bộ đến nhà anh Đặng Văn D1. Khi đến nơi, D thấy anh D1 đang nằm ngủ trên ghế tại phòng khách, bên cạnh có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A55 màu đen đang cắm sạc. D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại nên đi lại rút dây sạc lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo chống nắng đang mặc, rồi đem chiếc điện thoại đi cất giấu phía sau một nhà dân gần đường đê thuộc tổ dân phố Thanh Đ, phường H Th. Sau đó D đi bộ về thì gặp anh D1, anh D1 hỏi D có lấy trộm điện thoại của anh D1 không, thì D chối; anh D1 lục soát người D để tìm điện thoại nhưng không thấy. Đến 17 giờ cùng ngày, D quay trở lại nơi cất giấu điện thoại lấy chiếc điện thoại đem đến cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại của anh Vũ Hoàng Ch, sinh năm 1982, ở tổ dân phố T Ph, phường HB, thị xã Nghi Sơn, bán chiếc điện thoại cho anh Chung được số tiền 1.200.000 đồng. Số tiền này D đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết 370.000 đồng, số còn lại 830.000 đồng D đã giao nộp cho Cơ quan điều tra vào ngày 28/10/2023.
Kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A55, màu đen có giá trị 1.800.000 đồng.
Quá trình điều tra, Lê Anh D1 đã thành khẩn khai báo hành vi trộm cắp tài sản của mình, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xác minh về nhân thân của bị can Lê Anh D1, xác định D là đối tượng đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản.
Đối với anh Vũ Hoàng Ch, là người đã mua chiếc điện thoại do D trộm cắp. Quá trình điều tra xác định, khi mua chiếc điện thoại trên anh Chung không biết đây là tài sản trộm cắp; sau khi biết thông tin về chiếc điện thoại anh Chung đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra, vì vậy hành vi của anh Chung không cấu thành tội phạm.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSNS ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Anh D1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo D từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:
Vào khoảng 15 giờ ngày 27/10/2023, bị cáo Lê Anh D1 đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A55, màu đen, trị giá 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) của anh Đặng Văn D1 đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Mặc dù giá trị tài sản Lê Anh D1 chiếm đoạt của anh Đặng Văn D1 dưới 2.000.000đ (hai triệu đồng), nhưng trước đó D đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục vi phạm nên D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Anh D1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Của cải vật chất là do con người làm lụng vất vả mới có được, bị cáo lại lợi dụng lúc anh Đặng Văn D1 đang ngủ, sơ hở trong quản lý tài sản để bị cáo thực hiện trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, mới bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, không có khả năng tự cải tạo. Cần xử phạt tù bị cáo tương xứng với tính chất mức độ phạm tội để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Đặng Văn D1 đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường gì; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Hoàng Ch đã nhận số tiền 830.000đ là tiền bị cáo bán điện thoại cho anh Chung, còn thiếu số tiền 370.000đ nhưng anh Vũ Hoàng Ch không yêu cầu bị cáo trả cho anh, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Điều 6; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh D1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Anh D1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 30/10/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - Trại tạm giam công an T.Thanh Hoá; - Nhà tạm giữ công an TX Nghi Sơn; - Chi cục THADS TX Nghi Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nv liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |