vanban.org

Bản án 19/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tân Tỷ M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

Bị cáo Lê Thảo T phạm tội “Đánh bạc” Phạt bị cáo Tân Tỷ M 02 (hai) năm cải tại không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Thới Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Tân Tỷ M cho Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tân Tỷ M, Lê Thảo T - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tân Tỷ M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng

Bà Lê Thị Duyên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vỉ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Tân Tỷ M, sinh năm 1955 tại Cà Mau; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tân Văn K, sinh năm 1910 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1926 (đã chết); chồng Trương Văn B, sinh năm 1954, con: 01 người (con nuôi), sinh năm 2001; anh chị em ruột 12 người, lớn nhất sinh năm 1941, nhỏ nhất sinh năm 1969; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi “ Dùng nhà, chổ ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc”, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2293/QĐ-XPHC ngày 21/4/2023 do Ủy ban nhân dân huyện Thới Bình, xử phạt 7.500.000 đồng, nộp phạt ngày 07/12/2023 theo biên lai thu tiền phạt số 3495336, chưa được xóa tiền sự; nhân thân: Phạm tội lần đầu; Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 28/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Thảo T, sinh năm 1975 tại Cà Mau; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Công N, sinh năm 1943 và bà Lâm Thị A, sinh năm 1953 (đã chết); chồng tên Nguyễn Thanh H, sinh năm 1971, con: 02 người, lớn sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2005; anh chị em ruột 04 người, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ sinh năm 1979; tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự (tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPHC ngày 04/4/2023 của Công an thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bài ăn tiền”, đã nộp phạt xong ngày 25/7/2023, chưa được xóa tiền sự; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2182/QĐ-XPHC ngày 06/4/2023 của Ủy ban nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi “Làm chủ lô đề”, đã nộp phạt xong ngày 07/4/2023, chưa được xóa tiền sự.); nhân thân: Phạm tội lần đầu; Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 28/01/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 16/11/2023, bị cáo Tân Tỷ M rủ gê Lê Thảo T và Trương Bích P đến nhà của M thuộc Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để đánh bạc với hình thức chơi đánh bài tứ sắc được thắng thua bằng tiền. Đến 11 giờ 40 phút cùng ngày, T và P đi đến nhà của M để đánh bạc, đồng thời có Cao Thị Tố Q, Phan Văn T tự đến. Lúc này, M chuẩn bị địa điểm là căn nhà của mình đang ở, chiếu lác, bài và thu tiền xâu từ những người chơi bằng hình thức bán mỗi bộ bài tứ sắc với giá 20.000 đồng. M bắt đầu tổ chức cho các con bạc đánh bài ăn thua bằng tiền với nhau trái phép, nhưng không cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, khi T cùng các đối tượng Q, P và T đang đánh bài ăn thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an thị TB, huyện Thới Bình kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật. Tại thời điểm bắt quả tang có 01 chiếu bạc gồm có 04 tụ: T, Q, P và T mỗi người ngồi một tụ.

Hình thức chơi: Sử dụng bài tứ sắc, loại bài 112 lá. Quy ước ăn thua theo chến với mỗi chến bài là 150.000 đồng. Khi bắt đầu chơi thì các con bạc sẽ bỏ tiền xuống chiếu bạc ngay vị trí ngồi mỗi tụ và mỗi con bạc được phát 10 cây bài xếp hình tam giác, 08 cây bài xếp hình vuông và 02 cây bài xếp hình trụ (hay còn gọi là các con Lệnh). Trong đó, 10 con bài xếp hình tam giác sẽ bằng 01 con bài xếp hình vuông, 10 con bài xếp hình vuông sẽ bằng 01 con bài được xếp hình trụ. Cụ thể quy ước con bài hình tam giác là 1.000 đồng, con bài hình vuông là 5.000 đồng, con bài hình trụ là 50.000 đồng. Trong 01 chến bài các con bạc đánh nhiều bàn ăn thua bằng tiền với nhau theo cách tính đã quy ước bằng các con Lệnh. Khi con bạc nào thua hết các con Lệnh đã phát như nói trên tức là hết 01 chến bài, đồng nghĩa với việc con bạc đó thua tổng số tiền 150.000 đồng.

Số tiền bị cáo T và các đối tượng Q, P, T sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau:

Bị cáo Lê Thảo T khi đi đánh bạc không có đem theo tiền, dự định khi đánh bạc nếu thua sẽ mượn tiền của bị cáo M để trả trước sau đó sẽ hoàn trả lại cho M sau. T đã tham gia đánh nhiều bàn bài trong một chến bài, có thắng có thua không xác định được cụ thể, nhưng T xác định nếu ăn nhiều nhất là khoảng gần 50.000 đồng, còn thua nhiều nhất khoảng 20.000 đồng. Khi T đang đánh bài cùng với Q, P và T chưa hết một chến bài thì bị bắt quả tang, nên khi bị bắt không bị tạm giữ gì. Nhưng T xác định số tiền 360.000 đồng mà Công an thu giữ trên chiếu bạc là tiền bị cáo cùng với các đối tượng đang sử dụng đánh bạc.

Đối tượng Cao Thị Tố Q, Trương Bích P, Phan Văn T thừa nhận có tham gia đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền cùng với T. Khi bắt quả tang tạm giữ trên người Q 197.000 đồng, trên người T 1.690.000 đồng và P không bị tạm giữ gì. Nhưng không xác định được số tiền sử dụng, đánh bạc cụ thể của từng người là bao nhiêu, hiện không còn ở địa P, đi đâu, làm gì không xác định được.

Đối với bị cáo Tân Tỷ M đã bán được 01 bộ bài cho Q đang sử dụng đánh bài nhưng chưa kịp thu tiền xâu thì bị Công an bắt quả tang, nên không thu giữ được gì trên người M. Nhưng M xác định số tiền 360.000 đồng mà Công an thu giữ trên chiếu bạc là tiền bị cáo T cùng với các đối tượng đang sử dụng đánh bạc.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo T cùng với các đối tượng Q, P và T sử dụng vào việc đánh bạc có căn cứ chứng minh được là 360.000 đồng (là tiền trên chiếu bạc).

Vật chứng của vụ án: 01 hộp bài tứ sắc, chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu bằng lác, đã qua sử dụng; Các cây bài tứ sắc được xếp lại thành hình tam giác, hình vuông, hình trụ. Các vật chứng này đã được bàn giao cho Thi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024.

Đối với tổng số tiền thu giữ được là 2.247.000 đồng, Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện Thới Bình giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình theo Biên lai thu tiền số 0003811 ngày 12/6/2024.

Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố Tân Tỷ M về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và bị cáo Lê Thảo T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ y cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Tân Tỷ M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Phạt bị cáo M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo M từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Thảo T phạm tội “Đánh bạc”. Phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung bị cáo T từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 360.000 đồng; Trả lại cho Cao Tố Q 197.000 đồng; Trả lại cho Phan Văn T 1.690.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bài tứ sắc, chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu bằng lác, đã qua sử dụng; Các cây bài tứ sắc được xếp lại thành hình tam giác, hình vuông, hình trụ.

Bị cáo Tân Tỷ M, Lê Thảo T thừa nhận các hành vi phạm tội như đã Cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo M, bị cáo T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo Tân Tỷ M và Lê Thảo T đều có tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép chưa được xóa. Vào lúc 12 giờ 40 phút ngày 16/11/2023, tại Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, bị cáo M tiếp tục có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép và bị cáo T có hành vi tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 360.000 đồng.

Các bị cáo Tân Tỷ M, Lê Thảo T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu đã thu thập có tại hồ sơ, bị cáo M, bị cáo T đều có tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép chưa được xóa nhưng bị cáo M tiếp tục có hành vi “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo T tiếp tục có hành vi “Đánh bạc”. Do đó, hành vi của bị cáo M đủ yếu tố cấu thành tội “ tổ chức đánh bạc”, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “ đánh bạc”. Từ những căn cứ đã nêu có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo M đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự, bị cáo T đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 14/5/2024 mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng để nhận biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được nhà nước bảo hộ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa P, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo cố ý thực hiện. Do đó hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như: Bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là người hết tuổi lao động, bị cáo có chồng là thương binh 3/4, đang bị bệnh tai biến, việc đi lại sinh hoạt khó khăn, phải cần có bị cáo chăm sóc theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có ông ngoại và ông cậu là liệt sĩ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xử bị cáo M, bị cáo T với hình phạt cải tạo không giam giữ nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cũng có tác dụng phòng ngừa và giáo dục đối với bị cáo.

Ngoài hình phạt chính cải tạo không giam giữ, xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo M và T để nộp vào ngân sách nhà nước, có tác dụng răn đe các bị cáo, góp phần phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Vật chứng:

Đối với số tiền 360.000 đồng, tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận là tiền trên chiếu bạc, dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ; Đối với số tiền còn lại của Cao Thị Tố Q 197.000 đồng, của Phan Văn T 1.690.000 đồng, do Q, T đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, số tiền này không chứng minh được là mang theo để đánh bạc nên trả lại cho Q, T là phù hợp;

Các vật chứng gồm 01 hộp bài tứ sắc, chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu bằng lác, đã qua sử dụng; Các cây bài tứ sắc được xếp lại thành hình tam giác, hình vuông, hình trụ có liên quan đến hành vi tổ chức đánh bạc của bị cáo M, liên quan đến hành vi đánh bạc của bị cáo T, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng này là phù hợp.

Đối với Cao Thị Tố Q, Trương Bích P và Phan Văn T là những người tham gia chơi đánh bạc nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an thị trấn TB, huyện Thới Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng phát luật là phù hợp.

Đối với nghĩa vụ tài chính khấu trừ thu nhập của các bị cáo: Xét thấy bị cáo M đã hết tuổi lao động, có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, là lao động chính trong giao đình, đang nuôi chồng bệnh tai biến; Bị cáo T hiện nay có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, hơn nữa Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo nên không cần thiết khấu trừ một phần thu nhập của các bị cáo để sung công quỹ Nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ Luật hình sự đối với bị cáo Tân Tỷ M.

Căn cứ vào điểm khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ Luật hình sự đối với bị cáo Lê Thảo T.

Tuyên bố: Bị cáo Tân Tỷ M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

Bị cáo Lê Thảo T phạm tội “Đánh bạc”

Phạt bị cáo Tân Tỷ M 02 (hai) năm cải tại không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Thới Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Tân Tỷ M cho Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo Tân Tỷ M 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Phạt bị cáo Lê Thảo T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Thới Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Lê Thảo T cho Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thảo T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước .

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 136, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 360.000 đồng; Trả lại cho Cao Thị Tố Q 197.000 đồng; Trả lại cho Phan Văn T 1.690.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bài tứ sắc, chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu bằng lác, đã qua sử dụng; Các cây bài tứ sắc được xếp lại thành hình tam giác, hình vuông, hình trụ.

(Các vật chứng trên do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/6/2024 và Biên lai thu tiền số 0003811 ngày 12/6/2024).

Án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Tân Tỷ M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Lê Thảo T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bản án này là sơ thẩm, báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ