- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Túy V phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Túy V phạm tội “Trộm cắp tai sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN NAM ĐÔNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngay 18-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Lợi.
2. Ba Hồ Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhân Tai, Thư ký Tòa án nhân dân huyên Nam Đông, tinh Thưa Thiên Huê.
- Đai diên Viên kiểm sát nhân dân huyên Nam Đông, tinh Thưa Thiên Huê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiêm sát viên.
Trong ngay 18 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyên Nam Đông, tinh Thưa Thiên Huê xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngay 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyêt định đưa vụ án ra xét xử số: 670/2024/QĐXXST-HS ngay 06 tháng 12 năm 2024 va Thông báo số 677/TB-TAND, ngay 11/12/2024 về viêc thay đổi lịch phiên tòa đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Túy V (tên gọi khác: Không); sinh ngay 01 tháng 8 năm 1974, tại: Tinh Thưa Thiên Huê; nơi thường trú: TT KT, huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê; nghề nghiêp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Viêt Nam; căn cước công dân số: 046174002xxx, cấp ngay: 29/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; con ông: Nguyễn B (đã chêt) va ba Nguyễn Thị Th, sinh năm 1947; có chồng la Nguyễn Hoang V1, sinh năm: 1973 va 05 người con (con lớn nhất sinh năm 1993 va nhỏ nhất sinh năm 2011);
Quá trình nhân thân: Nhỏ sống với cha me tại xã VH, huyên PL, tinh Thưa Thiên Huê. Học văn hóa đên lớp 5/12 thì nghi va đi học nghề may tại thanh phố Hồ Chí Minh. Năm 1994 lập gia đình, sinh sống tại xã VH, huyên PL, tinh Thưa Thiên Huê. Đên năm 2004, cùng gia đình chuyên đên lam ăn sinh sống tại tổ dân phố 2, TT KT, huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê cho đên ngay phạm tội (ngay 19/7/2024).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biên pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tư ngay 15/9/2024 cho đên nay. Có mặt.
- Bị hại: Ba Lê Thị Vẽ, sinh năm: 1971; nơi thường trú: Xã HL. huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê; nghề nghiêp: Buôn bán. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tai liêu có trong hồ sơ vụ án va diễn biên tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ, ngay 19/7/2024, Nguyễn Thị Túy V, sinh năm: 1974 đang bán cơm tại nha của mình ở khu vực cổng phụ chợ Khe Tre, thuộc tổ dân phố 2, TT KT, huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê thì thấy ba Lê Thị Vẽ, sinh năm: 1971, trú tại: Xã HL. huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê điều khiên xe mô tô biên kiêm soát: 75H9-0460 đên dưng trước quán cơm của V đê dọn dep hang hóa. Lúc nay, V cũng đi đên phụ giúp ba Vẽ dọn dep thì phát hiên trên xe mô tô của ba Vẽ có đê một túi xách nhưng không kéo khóa, đê lộ ra một xấp tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp. Thấy ba Vẽ đang dọn hang không đê ý nên V tiên lại gần xe mô tô rồi lén lút thò tay phải vao trong túi xách cầm xấp tiền, nắm chặt trong lòng ban tay rồi đi đên bỏ vao thùng nhựa đựng đá mau đỏ đê trước cửa quán cơm, sau đó quay lại tiêp tục giúp ba Vẽ dọn dep. Sau khi dọn dep hang hóa xong ba Vẽ lên xe mô tô đi về nha, còn V cầm số tiền trộm cắp được đi lên phòng ngủ trên tầng hai kiêm tra thì biêt được số tiền la 50.000.000 đồng (gồm 100 tờ tiền Polyme mênh giá 500.000 đồng/tờ) va cất giấu trong tủ quần áo.
Đên khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngay, ba Vẽ phát hiên bị mất trộm số tiền 50.000.000 đồng nên quay lại quán cơm của V đê hỏi có lấy tiền của mình không thì V nói không lấy. Đên ngay 21/7/2024, ba Vẽ đã trình báo vụ viêc mất tai sản đên Công an thị trấn Khe Tre đê điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Công an TT KT, huyên NĐ đã triêu tập Nguyễn Thị Túy V đên đê lam viêc. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Thị Túy V đã khai nhận hanh vi phạm tội của mình va giao nộp lại số tiền: 50.000.000 đồng (Năm mươi triêu đồng).
* Vât chưng Cơ quan Canh sát điêu tra Công an huyên Nam Đông đa thu giư: Số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triêu đồng) gồm 100 tờ Poolyme mỗi tờ mênh giá 500.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyên Nam Đông đã xử lý vật chứng trả lại cho ba Lê Thị Vẽ la chủ sở hữu hợp pháp.
* Vê dân sự: Bị hại ba Lê Thị Vẽ đã nhận lại số tiền 50.000.000 đồng va không yêu cầu bồi thường đồng thời xin giảm nhe trách nhiêm hình sự cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSNĐ ngay 29/11/2024 của Viên kiêm sát nhân dân huyên Nam Đông, tinh Thưa Thiên Huê truy tố bị cáo Nguyễn Thị Túy V về tội “Trộm cắp tai sản” quy định tại điêm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diên Viên kiêm sát thực hanh quyền công tố phát biêu quan điêm luận tội giữ nguyên quyêt định truy tố va đề nghị:
- Về hình sự: Đề nghị áp dụng điêm c khoản 2 Điều 173; điêm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đê xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Túy V tư 02 năm đên 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách tư 04 năm đên 05 năm tính tư ngay tuyên án.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
- Về trách nhiêm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, khoản 6 Điều 26 Nghị quyêt số: 326/2016/UBTVQH14, ngay 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự.
Tại phiên tòa, bị báo đã khai nhận toan bộ hanh vi phạm tội của mình va tội danh ma Viên kiêm sát đã truy tố theo như bản Cáo trạng va quan điêm luận tội, bị cáo không có ý kiên tranh luận về hanh vi, tội danh, hình phạt va các vấn đề khác.
Tại phiên tòa, bị hại ba Lê Thị Vẽ cung cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhe hình phạt cho bị cáo.
Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, giảm nhe hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vao các tai liêu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyêt định, hanh vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố va tại phiên tòa bị cáo va người tham gia tố tụng khác không có ý kiên hay khiêu nại gì về quyêt định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiên hanh tố tụng, người có thẩm quyền tiên hanh tố tụng. Các quyêt định, hanh vi tố tụng đã thực hiên đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Do đó, các quyêt định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiên hanh tố tụng va người tiên hanh tố tụng la hợp pháp.
Về hanh vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thưa nhận hanh vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại va các chứng cứ, tai liêu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Lợi dụng sơ hở trong quản lý tai sản của chủ sở hữu, khoảng 19 giờ 00 phút, ngay 19/7/2024 tại khu vực cộng phụ chợ Khe Tre thuộc tổ dân phố 2, TT KT, huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê. Nguyễn Thị Túy V đã có hanh vi lén lút chiêm đoạt của ba Lê Thị Vẽ số tiền la 50.000.000 đồng (Năm mươi triêu đồng). Do đó, hanh vi của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thanh tội “Trộm cắp tai sản” theo quy định tại điêm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viên kiêm sát nhân dân huyên Nam Đông, tinh Thưa Thiên Huê va lời buộc tội của Kiêm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo la có căn cứ, đúng người, đúng tội va phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ hanh vi phạm tội của bị cáo:
Hanh vi phạm tội của bị cáo la nguy hiêm cho xã hội, thực hiên hanh vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiêp, xâm phạm đên quyền sở hữu tai sản của công dân được pháp luật bảo vê, ảnh hưởng xấu đên trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo la người có năng lực trách nhiêm hình sự, nhận biêt được hanh vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát tư động cơ vụ lợi, muốn hưởng thụ trên thanh quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sơ hở của bị hại đê lén lút chiêm đoạt tai sản nhằm thu lợi bất chính, phục vụ nhu cầu bản thân, gây bức xúc, lo lắng cho nhân dân.
Về nhân thân, tình tiêt tăng nặng, giảm nhe trách nhiêm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiêt tăng nặng: Bị cáo không phạm vao tình tiêt tăng nặng nao.
- Về tình tiêt giảm nhe: Trong giai đoạn điều tra, truy tố va tại phiên tòa bị cáo thanh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hanh vi của mình; đã khắc phục hậu quả được quy định tại điêm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoai ra, bị hại đã có đơn xin giảm nhe hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiêt giảm nhe được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vao tính chất, mức độ hanh vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiêt giảm nhe, không phạm tình tiêt tăng nặng. Hanh vi phạm tội của bị cáo la bộc phát, nhất thời, do hoan cảnh kinh tê gia đình túng quẫn nên mới nảy sinh ý định trộm cắp tai sản; bị hại có đơn xin giảm nhe hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, la con một hiên đang nuôi dưỡng me gia, thường xuyên đau ốm; ngoai lần phạm tội nay luôn chấp hanh đúng chính sách, pháp luật va thực hiên đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, bị cáo có nơi cư trú rõ rang, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hanh hình phạt tù ma bị cáo có khả năng tự cải tạo, viêc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiêm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đên an ninh, trật tự, an toan xã hội, bị cáo có đủ điều kiên được hưởng án treo theo Nghị quyêt số 02/2018/NQ-HĐTP ngay 15 tháng 5 năm 2018 va Nghị quyêt số 01/2022/NQ-HĐTP ngay 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diên Viên kiêm sát nhân dân huyên Nam Đông tại phiên tòa; giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục va ấn định một thời gian thử thách la hoan toan có căn cứ va phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định, hiên đang nuôi dưỡng me gia nên không áp dụng hình phạt bổ sung la phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triêu đồng) gồm 100 tờ Poolyme mỗi tờ mênh giá 500.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyên Nam Đông đã xử lý vật chứng trả lại cho bị hại ba Lê Thị Vẽ la chủ sở hữu hợp pháp. Tại phiên tòa, bị hại không có ý kiên gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyêt.
Về trách nhiêm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyêt.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của đại diên Viên kiêm sát về tội danh, hình phạt, các tình tiêt tăng nặng, giảm nhe trách nhiêm hình sự cho bị cáo phù hợp với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vao điêm c khoản 2 Điều 173; điêm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Túy V phạm tội “Trộm cắp tai sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Túy V 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách la 04 (bốn) năm kê tư ngay tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Túy V cho Ủy ban nhân dân TT KT, huyên NĐ, tinh Thưa Thiên Huê giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiên theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hanh án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ tư 02 lần trở lên thì Tòa án có thê quyêt định buộc người được hưởng án treo phải chấp hanh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điêm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lê phí Toa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Túy V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án nay trong thời hạn 15 ngay, kê tư ngay tuyên án.
Trường hợp bản án nay được thi hanh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hanh án dân sự thì người được thi hanh án dân sự, người phải thi hanh án dân sự có quyền thoả thuận thi hanh án, quyền yêu cầu thi hanh án, tự nguyên thi hanh án hoặc bị cưỡng chê thi hanh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b va 9 Luật Thi hanh án dân sự; thời hiêu thi hanh án được thực hiên theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hanh án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tinh TT-Huê; - VKSND tinh Thưa Thiên Huê; - Sở Tư pháp tinh Thưa Thiên Huê; - VKSND huyên Nam Đông; - CQĐT Công an huyên Nam Đông; - CQ THAHS Công an huyên Nam Đông; - Chi cục THADS huyên Nam Đông; - UBND thị trấn Khe Tre; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án; án văn. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Phan Văn Lợi Hồ Thị Nga | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Mạnh Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Mạnh |