- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự trộm cắp tài sản Trần Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 20/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngạch và ông Trinh Xuân Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 20/5/2024 tại Hội trường xét xử số 1 - Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/HSST, ngày 26/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS, ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1985; Quê quán: Xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N và bà Bùi Thị H (đều đã chết); Anh chị em ruột: Có 02 người (bị cáo là con đầu); Vợ, con: Chưa có: Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: có 05 tiền án, gồm: Ngày 18/08/2004 bị TAND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án số 09/HSST, chấp hành xong ngày 24/7/2007; ngày 02/08/2007 bị TAND huyện Tuy Hòa, tỉnh P xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án số 66/HSST, chấp hành xong ngày 16/8/2009; ngày 12/01/2010 của TAND huyện B, tỉnh Q xử phạt 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án số 03/HSST, chấp hành xong ngày 01/3/2013; ngày 23/04/2015 bị TAND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, bản án số 15/HSST, chấp hành xong ngày 07/9/2022; ngày 02/3/2023, bị Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 09/2023/HS-ST, chấp hành xong ra trại ngày 11/11/2023. Nhân thân: Ngày 15/05/1999 UBND tỉnh Hà Tĩnh đưa vào Trường giáo dưỡng số II - Bộ Công an, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, thời gian chấp hành 24 tháng tại Quyết định số 878/QĐ/UB-NC; ngày 29/01/2002 UBND tỉnh Hà Tĩnh đưa vào Trường giáo dưỡng, thời gian chấp hành 24 tháng tại Trường giáo dưỡng số II - Bộ Công an đóng tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình theo Quyết định số 204/QĐ/UB-NC. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người bị hại: Chị Trần Thị Hoài T; sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Bùi Đình C; sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
- Người làm chứng:
Anh Lê Khắc H; sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện H, tĩnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, sau khi ăn uống tại nhà ông Bùi Đình C, sinh năm 1960, trú tại thôn V, xã H, huyện H xong thì Trần Văn H, sinh năm 1985, trú cùng thôn mượn xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 38B1-023.85 của ông C để đi chơi. Được ông C đồng ý, H điều khiển xe về nhà của mình lấy mũ bảo hiểm rồi đi đến địa bàn xã P, huyện H để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đi qua quầy bán thuốc số 35 của chị Trần Thị Hoài T, sinh năm 1991, thuộc thôn P, xã P, huyện H thì thấy đèn sáng nhưng không có người trông coi. H dừng xe bên lề đường, quay đầu xe theo hướng ngược lại rồi đi bộ vào phía trước quầy thuốc đứng lại một lúc để quan sát, thấy không có người nên đi vào bên trong, dùng tay phải mở ngăn kéo tủ đựng thuốc thì thấy một số tiền, H lấy trộm tiền bỏ vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 25/02/2024, H thức dậy lấy số tiền trộm được trước đó ra đếm được 900.000 đồng (gồm 07 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng), H cất tiền vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô đến trả cho ông C sau đó đến làm việc tại xưởng đóng gạch của anh Bùi Đình Q, sinh năm 1987, trú cùng thôn.
Khoảng 07 giờ ngày 25/02/2024, chị Trần Thị Hoài T đến Công an xã P trình báo sự việc bị mất trộm tiền vào đêm 24/02/2024. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Trần Văn H đã đến Công an xã P để đầu thú và tự nguyện giao nộp 900.000 đồng lấy trộm được.
* Vật chứng vụ án, gồm: Số tiền 900.000 đồng (do Trần Văn H tự nguyện giao nộp); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 38B1-023.85 (do ông Bùi Đình C tự nguyện giao nộp).
Quá trình điều tra xác định số tiền 900.000 đồng của chị Trần Thị Hoài T; chiếc xe mô tô Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 38B1-023.85 là tài sản hợp pháp của ông Bùi Đình C cho Trần Văn H mượn sử dụng nhưng không biết H dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị Hoài T đã nhận lại tài sản bị mất, hiện không có yêu cầu gì T về mặt dân sự.
Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS-HS, ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 25/02/2024).
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trần Thị Hoài T đã nhận lại đủ số tiền 900.000 đồng. Nay bị hại chị T không yêu cầu bị cáo H bồi thường gì T, nên đề nghị miễn xét.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn H có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố tại phiên tòa hôm nay là đúng và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những người tham gia tố tụng: Người bị hại chị Trần Thị Hoài T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn C vắng mặt, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về tình tiết định tội, định khung, tính chất mức độ hành vi phạm tội:
- Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại hồ sơ vụ án; phù hợp với đơn trình báo, lời khai bị hại; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đặc điểm số tiền bị mất trộm; phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản sự việc, kết luận định giám đinh, phù hợp với hình ảnh Camera của gia đình và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Trần Văn H đang có 05 tiền án về các tội chiếm đoạt tài sản, trong 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền án về tội “cướp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện. Vào khoảng 22 giờ ngày 24/02/2024, H đến quầy bán thuốc tây của chị Trần Thị Hoài T thuộc thôn P, xã P, huyện H lấy trộm 900.000 đồng của chị T. Sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp, đến sáng hôm sau biết mình đã bị phát hiện nên đến Công an xã P đầu thú và tự nguyện giao nộp 900.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
- Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lựa chọn thời gian phạm tội vào buổi tối, lợi dụng sự sở hở của chủ sở hữu, không có người trong coi nên đã lén lút lấy trộm tiền, bị cáo coi thường pháp luật, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã lén lút lấy trộm tiền của gia đình bị hại, hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người, gây ra sự phẫn nộ trong quần chúng nhân dân.
Về các tình tiết tăng nặng, nhân thân, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và tiền sự.
- Nhân thân: Bị cáo Trần Văn H có 02 nhân: Ngày 15/05/1999 UBND tỉnh Hà Tĩnh đưa vào Trường giáo dưỡng thời gian chấp hành 24 tháng theo Quyết định số 878/QĐ/UB-NC và ngày 29/01/2002 UBND tỉnh Hà Tĩnh đưa vào Trường giáo dưỡng, thời gian chấp hành 24 tháng theo Quyết định số 204/QĐ/UB-NC, nhưng bị cáo không coi đây là bài học kinh nghiệm cho bản thân mà vẩn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú nên căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn H không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
Đối với các hành vi khác: Trong vụ án này có ông Bùi Đình C là chủ sở hữu xe mô tô 38B1-023.85 đã cho Trần Văn H mượn xe mô tô, nhưng ông C không biết bị cáo H sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H không có căn cứ xử lý, Viện kiểm sát không truy tố nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trần Thị Hoài T đã nhận lại đủ số tiền đầy đủ, không có yêu cầu gì T nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về vật chứng vụ án, gồm: Số tiền 900.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 38B1-023.85. Các vật chứng này Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện H đã xử lý, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đúng quy định nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Quan điểm đề nghị xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa về điều khoản, tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng phù hợp nhận định Hội đồng xét xử và đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về điều luật: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 25/02/2024.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại chị Trần Thị Hoài T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn C vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh - VKSND huyện H; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh - Công an huyện H; - Cơ quan THAHS Công an H; - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; bị hại, người liên quan; - Lưu HSVA-VPTA. THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Ngạch Trinh Xuân Minh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Phú THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Phú |