vanban.org

Bản án 19/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. 2/.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Khởi lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? 1/.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HD
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày: 13-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD - TỈNH BL

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Hồng Diễm

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Đến và ông Lâm Thái Hiệp

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Hoàng Kha, Thư ký Tòa án nhân dân huyện HD.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Quang và ông Trần Văn Cận, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện HD xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Kh (tên gọi khác: không có), sinh ngày 01/01/1978, tại BL; Nơi cư trú: ấp Ng, xã NQ, huyện HD, tỉnh BL; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1942; vợ: Lê Thanh Th, sinh năm 1978; Con 01 người sinh năm 2016; Anh, chị, em ruột: 10 người, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị Kh tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/4/2024 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Ông Huỳnh Văn Th, sinh ngày 01/01/1966; Địa chỉ: ấp NH, xã NQ A, huyện HD, tỉnh BL. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn Ng, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp NT I, xã NH, huyện HD, tỉnh BL. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 15/3/2024, bị cáo Kh đang nuôi con gái điều trị bệnh tại Trung tâm Y tế huyện HD nhặt được 01 phiếu giữ xe của nhà xe Trung tâm Y tế huyện HD nhưng không biết của ai tại dốc cầu thang khoa nội Trung tâm Y tế huyện HD rồi cất giữ trong túi quần. Đến khoảng 07 giờ ngày 15/3/2024, khi đi ngang quầy thuốc tây của Trung tâm Y tế huyện HD, bị cáo Kh thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94F1 – 384.61 của ông Huỳnh Văn Ng đang gửi tại nhà xe Trung tâm Y tế huyện HD và chìa khóa vẫn còn cắm trong ổ khóa xe, lúc này bị cáo Kh nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên nên đi đến chỗ ông Huỳnh Văn Th là người trông giữ xe của Trung tâm Y tế huyện HD, bị cáo Kh đưa phiếu gửi xe mà bị cáo nhặt được trước đó và đưa số tiền 10.000 đồng cho ông Th để trả tiền gửi xe, sau khi nhận được phiếu gửi xe do bị cáo Kh đưa, ông Th không kiểm tra, đối chiếu phiếu gửi xe với biển số xe của ông Ng, bị cáo Kh cũng không nhận lại tiền gửi xe còn thừa. Liền sau đó, bị cáo đến chỗ đậu xe của ông Ng rồi mở khóa, nổ máy điều khiển xe ra cổng Trung tâm Y tế huyện HD chạy về nhà cất giấu, rồi quay lại Trung tâm Y tế huyện HD để tiếp tục nuôi con gái đang điều trị bệnh. Đến ngày 25/3/2024, Công an thị trấn Ngan Dừa, huyện HD mời bị cáo Kh lên làm việc do nghi ngờ liên quan đến việc chiếc xe của ông Huỳnh Văn Ng bị mất khi gửi tại Trung tâm Y tế huyện HD. Quá trình làm việc thì bị cáo Kh đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/BKL – HĐĐGTS ngày 09/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HD: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX FI, số máy JA52E0279044, số khung RLHJA3851MY124305, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94F1 – 384.61, xe đã qua sử dụng, có giá trị là 14.000.000 đồng.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý như sau: quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra có thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX FI, số máy JA52E0279044, số khung RLHJA3851MY124305, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94F1 – 384.61 đã trả lại cho bị hại xong; 01 biển số xe mô tô 68X1-011.14 của bị cáo Nguyễn Văn Kh.

Phần trách nhiệm dân sự: bị hại ông Huỳnh Văn Th không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại cáo trạng số: 18/CT – VKSHD ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HD truy tố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có quan điểm không thay đổi so với bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Kiểm sát viên phát biểu đề xuất đường lối giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

-Về vật chứng vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX FI, số máy JA52E0279044, số khung RLHJA3851MY124305, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94F1 – 384.61 đã trả lại cho bị hại xong nên đề nghị không đề cập xử lý. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô 68X1-011.14 (đã qua sử dụng, biển số có dấu hiệu hư hỏng và rỉ sét). Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện HD đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/7/2024.

-Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cùng những chứng cứ tài liệu khác được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo được thể hiện: Vì động cơ vụ lợi, vào khoảng 07 giờ, bị cáo Kh thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94F1 – 384.61 của ông Huỳnh Văn Ng đang gửi tại nhà xe Trung tâm Y tế huyện HD và chìa khóa vẫn còn cắm trong ổ khóa xe, thì bị cáo Kh nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe nêu trên, nên bị cáo Kh đã dùng thủ đoạn gian dối là dùng phiếu giữ xe của nhà giữ xe Trung tâm Y tế huyện HD mà bị cáo nhặt trước đó nhưng không biết của ai và số tiền 10.000 đồng đưa cho ông Th là người trông giữ xe của Trung tâm Y tế huyện HD để trả tiền gửi xe và lấy xe. Sau khi nhận được phiếu gửi xe và tiền do bị cáo Kh đưa, ông Th lầm tưởng bị cáo Kh là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94F1 – 384.61 nên không kiểm tra, đối chiếu phiếu gửi xe với biển số xe của ông Ng mà để cho bị cáo Kh lấy xe điều khiển ra khỏi cổng Trung tâm Y tế huyện HD rồi chạy về nhà cất giấu. Qua định giá tài sản bị cáo Kh chiếm đoạt có giá trị là 14.000.000 đồng. Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Do đó cáo trạng số 18/CT – VKSHD ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HD truy tố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, mà quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo không những gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân không yên tâm lao động sản xuất mà còn gây mất trật tự trị an nơi xảy ra tội phạm. Bị cáo trong lúc thực hiện hành vi phạm tội đã là người thành niên và có khả năng nhận thức được chiếm đoạt tài sản là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Là một người trưởng thành, khỏe mạnh, lẽ ra bị cáo có thể tìm được một công việc phù hợp để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân nhưng bị cáo bất chấp pháp luật để chiếm đoạt tài sản, hưởng thụ thành quả lao động của người khác bằng cách vi phạm pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Kh phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra, truy tố cũng như xét xử. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Xét tình tiết tăng nặng: Không có

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án tù nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, giáo dục cho bị cáo trở thành một công dân có ích cho xã hội.

Trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX FI, số máy JA52E0279044, số khung RLHJA3851MY124305, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94F1 – 384.61 đã trả lại cho bị hại xong nên đề nghị không đề cập xử lý. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô 68X1-011.14 (đã qua sử dụng, biển số có dấu hiệu hư hỏng và rỉ sét). Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện HD đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/7/2024.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự.

. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1 Điều 38; Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

2/.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

3/.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô 68X1-011.14 (đã qua sử dụng, biển số có dấu hiệu hư hỏng và rỉ sét). Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện HD đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/7/2024.

4/. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải nộp 200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ