- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 17- 5- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nam Văn
Ông Trịnh Tiến Thanh
-Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hoá.
-Đại diện VKSND huyện H, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Thanh Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H - sinh năm: 1999, tại xã tại V, huyện U, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện U, TP Hà Nội; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1968, con bà: Trần Thị T, sinh năm 1972; vợ là chị Hoàng Ngọc L, sinh năm 2001 và có 02 con sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2023 đến ngày 01/12/2023 chuyển tạm giam, đến ngày 06/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Võ Văn H, sinh năm 1988, (vắng mặt)
Trú tại: Thôn Th, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt)
Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1994, (vắng mặt)
Trú tại: Thôn Th, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Người làm chứng:
Anh Lưu Đức H -1, sinh năm
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn H đã lên mạng xã hội tìm kiếm và học được phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức bán kết quả số lô, số đề. H đã mua một sim điện thoại số 0382857363 để đăng ký tài khoản Zalo tên “Nguyễn Bảo Long” đã lên mạng và tìm mua một thẻ ngân hàng TMCP quân đội MB, số tài khoản 69961686, mang tên Lưu Đức H -1 và sử dụng tài khoản Facebook tên “Duy Hipp” để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. H sử dụng máy tính cây để đăng nhập tài khoản Facebook tên “Duy Hipp” và chạy các bài viết nội dung giao bán kết quả số lô đề và H mua trên mạng 05 con dấu đỏ và tải một số mẫu Hợp đồng bán số lô, số đề trên mạng nhằm mục đích làm tin đối với người mua kết quả số lô, số đề để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Với phương thức trên từ tháng 9/2023 đến tháng 11/2023 Nguyễn Văn H đã chiếm đoạt tài sản của các cá nhân cụ thể như sau:
Ngày 28/9/2023, Nguyễn Văn H sử dụng trang Facebook “Duy Hipp” để chạy các bài viết bán kết quả số lô đề với nội dung “số chuẩn bao lZô miền Bắc” thì có anh Võ Văn H, SN 1988, trú tại Thôn Th, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế đã kích vào bài viết của H, sau đó H có gửi tin nhắn trên ứng dụng mesenger cho anh Hải với nội dung “anh cần số chuẩn đúng không?”, sau đó H giới thiệu liên hệ Zalo qua số điện thoại 0382857636 mang tên Nguyễn Bảo L của H và giới thiệu cho số lô chuẩn với giá tiền từ 3.000.000đ và yêu cầu phải chuyển tiền trước. Để tạo niềm tin cho anh H, H có gửi cho anh H một số bản hợp đồng với hình ảnh có dấu đỏ đã kiểm định của Công ty xổ số miền Bắc và bản cam kết, thấy vậy anh H đã đồng ý mua một số lô với giá tiền trên. Sau đó, H gửi số tài khoản 69961686, mang tên Lưu Đức H -1, thuộc ngân hàng TMCP Quân đội MB cho anh H để chuyển tiền thì anh H đã sử dụng số tài khoản 4007205051640, mang tên VO VAN HAI, thuộc ngân hàng Agribank chuyển khoản số tiền là 3.000.000 đồng vào tài khoản số 69961686 mang tên LUU DUU HAI cho H. Sau khi anh H chuyển tiền xong, H vẫn chưa gửi số lô cho anh H mà tiếp tục lấy lý do là có Hội đồng thanh tra xuống kiểm tra việc xổ số nên yêu cầu anh H phải chuyển thêm số tiền là 3.000.000 đồng nữa, thì anh H đồng ý và chuyển số tiền 3.000.000đ cho H. Một lúc sau, H tiếp tục yêu cầu anh H chuyển tiền bồi dưỡng cho nhân viên quay số với số tiền là 1.000.000 đồng vào số tài khoản trên, thì anh H đồng ý và chuyển số tiền 1.000.000đ cho H. Sau đó, H nói với anh H cam kết số lô số đề chuẩn (số víp về hai vòng) trong hôm nay và yêu cầu anh H chuyển thêm số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) nữa, thì anh H đồng ý và chuyển số tiền trên cho H bằng số tài khoản cũ, tuy nhiên ngày hôm đó H vẫn chưa gửi số cho anh H. Đến sáng ngày 29/9/2023, H tiếp tục liên lạc với anh H và yêu cầu chuyển thêm số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) nữa để hoàn thiện hồ sơ, thì anh Hải đồng ý và chuyển khoản số tiền trên cho H, sau đó H tiếp tục yêu cầu anh H chuyển thêm số tiền là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) để bảo lưu hồ sơ thì anh H không đồng ý và yêu cầu trả lại tiền thì H không trả và không liên lạc với anh H nữa. Đến ngày 01/10/2023, H tiếp tục liên lạc với anh H, thì anh H có yêu cầu H trả lại tiền, H đã không trả tiền và gửi cho anh H một số lô miền Bắc của ngày là số 58. Sau đó H đã hủy Zalo của anh H và không liên lạc nữa. Tổng số tiền Nguyễn Văn H đã chiếm đoạt của anh H là 12.500.000 đồng.
Tiếp đến ngày 16/11/2023, H đã sử dụng chiếc điện thoại Iphone XS Max của H để đăng nhập tài khoản Zalo tên Nguyễn Bảo L và liên hệ với tài khoản Zalo tên “Anh” của anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1994, trú tại thôn Th, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Đ. Anh Vũ Văn Đ hỏi H mua một số lô thì H trả lời nếu mua một số lô thì phải mất phí là 3.000.000đ, đồng thời H đã soạn và in ra một văn bản có nội dung đã mua được số lô từ Hội đồng xổ số Miền Bắc, có đóng các dấu đỏ để tạo niềm tin cho anh Đức thì anh Đ đồng ý mua. Sau đó, anh Đ đã chuyển khoản số tiền 3.000.000đ vào số tài khoản 69961686, mang tên Lưu Đức H -1 cho H, sau khi nhận được tiền H tiếp tục yêu cầu anh Đ phải chuyển thêm cho H số tiền 500.000đ thì mới cho số lô. Anh Đ đồng ý và đã chuyển thêm cho H số tiền 500.000đ, sau đó H đã chụp gửi cho anh Đ hợp đồng xổ số kiến thiết miền Bắc và bản cam kết mà H đã soạn trước đó có nội dung đã mua được số lô của Hội đồng xổ số kiến thiết miền Bắc và cam kết chắc chắn có kết quả là số 82. Sau khi nhận được số anh Đ không đi ghi số lô này và đến tối cùng ngày có dò kết quả xổ số Miền Bắc ngày hôm đó thì không có số 82, biết mình đã bị lừa nên anh Đ đã đến trình báo cơ quan CSĐT Công an huyện H sự việc trên. Tổng số tiền H đã chiếm đoạt của anh Đ là 3.500.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) thẻ ATM, màu đen, số tài khoản: 69961686 thuộc ngân hàng Quân đội MB mang tên Lưu Đức H -1.
- 01 (một) chiếc điện thoại Iphone XS MAX, màu vàng, số IMEI: 357290094499247, tình trạng đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại bị vỡ kính.
- 01 (một) cây máy tính, nhãn hiệu PULLER, màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) màn hình máy tính, nhãn hiệu LG, màu đen, đã qua sử dụng
- 01 (một) bàn phím máy tính, màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) máy in, nhãn hiệu CANON, màu trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) kẹp giấy A4, màu xanh, đã qua sử dụng.
- 01 (một) con dấu đỏ, xung quanh dấu có khắc dòng chữ HỘI ĐỒNG XỔ SỐ MIỀN BẮC HÀ NỘI*ÍCH NƯỚC LỢI NHÀ, ở giữa dấu có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Thịnh, đã qua sử dụng.
- 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ XỔ SỐ MIỀN BẮC ĐÃ KIỂM DUYỆT, đã qua sử dụng.
- 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ THU NGÂN ĐÃ THU TIỀN, đã qua sử dụng.
- 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Thịnh, đã qua sử dụng.
- 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ HĐXS-XSMB ĐÃ KIỂM ĐỊNH, đã qua sử dụng.
- Số tiền 1.558.555đ thu giữ trong tài khoản số 69961686 thuộc TMCP Quân đội MB mang tên LUU DUC HAI, hiện đang bảo quản tại tài khoản tạm giữ của Công an huyện Hậu Lộc tại Kho bạc Nhà nước huyện H.
Các vật chứng nêu trên đang bảo quản tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện H để giải quyết theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Anh Võ Văn H yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường theo quy định của pháp luật. Anh Vũ Văn Đ sau khi nhận lại số tiền 3.500.000đ Nguyễn Văn H đã chiếm đoạt, anh Đ không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại bản Cáo trạng số: 22/CT – VKS HL ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn H.
Về tội danh Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Về căn cứ áp dụng hình phạt: Áp dụng b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 174 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H, mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện U, thành phố Hà Nội, quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dung điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của BLHS; Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Võ Văn H số tiền 12.500.000 đồng, số tiền bồi thường trong quá trình điều tra được giữ trong tài khoản mang tên Luu Duc Hai là 1.558.555 đồng đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện H và số tiền gia đình bị cáo nộp 10.941.445 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự, theo biên lai thu tiến ngày 16/5/2024, để bảo đảm bồi thường cho người bị hại là anh Võ Văn H. Đối với anh Vũ Văn Đ bị chiếm đoạt số tiền 3.500.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường trong giai đoạn điều tra nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 (một) thẻ ATM, màu đen, số tài khoản: 69961686 thuộc ngân hàng Quân đội MB; 01 (một) kẹp giấy A4, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ, xung quanh dấu có khắc dòng chữ HỘI ĐỒNG XỔ SỐ MIỀN BẮC HÀ NỘI*ÍCH NƯỚC LỢI NHÀ, ở giữa dấu có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Th, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ XỔ SỐ MIỀN BẮC ĐÃ KIỂM DUYỆT, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ THU NGÂN ĐÃ THU TIỀN, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Thịnh, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ HĐXS-XSMB ĐÃ KIỂM ĐỊNH, đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước vật chứng liên quan tội phạm gồm: 01(một) chiếc điện thoại Iphone XS MAX, màu vàng, số IMEI: 357290094499247, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) cây máy tính nhãn hiệu PULLER, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) màn hình máy tính, nhãn hiệu LG, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) bàn phím máy tính, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) máy in, nhãn hiệu CANON, màu trắng, đã qua sử dụng.
Đối với số tiền 1.558.555đ thu giữ trong tài khoản số 69961686 thuộc TMCP Quân đội MB mang tên Luu Duc Hai, đã được chuyển qua tài khoản tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện H. Cần tiếp tục thu giữ để bảo đảm công tác thi hành án,
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết 326. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, số tiền án phí bị cáo đã tự nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự theo biên lai thu số 0001627 ngày 17/5/2024.
Bị cáo Nguyễn Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ được phân công. Vụ án được điều tra đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng.
. Về chứng cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận; Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn H đã lên mạng xã hội, mua các công cụ như thẻ ngân hàng TMCP quân đội MB mang tên Luu Duc Hai; sim điện thoại số 0382857363 để đăng ký tài khoản Zalo tên “Nguyễn Bảo L” và 05 con dấu đỏ có khắc tên tổ chức, các nhân; đồng thời tải trên mạng xã hội một số mẫu Hợp đồng mua bán số lô, số đề; bị cáo còn sử dụng tài khoản Facebook tên “Duy Hipp” và dùng điện thoại, máy tính, máy in và một số công cụ phạm tội khác để nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bằng thủ đoạn gian dối, thông qua thông tin trao đổi trên mạng xã hội Zalo, Facebook. Nguyễn Văn H đã thực hiện chót lọt hành vi chiếm đoạt của anh Võ Văn H với số tiền 12.500.000 đồng vào các ngày 28/9/2023 và ngày 29/9/2023. Cũng bằng thủ đoạn trên, ngày 16/11/2023, Nguyễn Văn H tiếp tục thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Văn Đ, với số tiền 3.500.000 đồng. Như vậy, các lần chiếm đoạt Nguyễn Văn H đã chiếm đoạt được của các bị hại tổng số tiền là 16.000.000 đồng. Do đó, đủ căn cứ để khẳng định, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo thực hiện hàn vi phạm tội chiếm đoạt tài sản nhiều lần, các lần phạm tội đều có đủ yêu tố cấu thành tội phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015.
. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu do hành vi phạm tội gây ra và đã nộp án phí. Bên cạnh đó, mẹ bị cáo bị mắc bệnh ung thư, vợ bị cáo mới sinh hai con nhỏ, gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng nhiều người thân tàn tật, bị cáo là lao động chính trong gia đình và được địa phương nơi cư trú xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ cho bị cáo phần hình phạt. Ngoài ra không còn căn cứ xem xét tình tiết giảm nhẹ nào khác.
. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho hưởng án treo đối với bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Nên không cần thiết phải cách ly đối với bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần cho hưởng án treo theo khoản 1, 2 Điều 65 của BLHS, cũng đảm bảo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của BLHS; Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Võ Văn H số tiền 12.500.000 đồng, số tiền bồi thường trong quá trình điều tra được giữ trong tài khoản mang tên Luu Duc Hai là 1.558.555 đồng đã được thu nộp theo giấy Ủy nhiệm chi của Công an huyện H chuyển khoản 3949.0.9013540 tại Kho bạc Nhà nước và số tiền gia đình bị cáo nộp 10.941.445 đồng, theo biên lai thu tiền số 0001626 ngày 16/5/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự, để bảo đảm bồi thường cho anh Võ Văn H. Đối với anh Vũ Văn Đ bị chiếm đoạt số tiền 3.500.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường trong giai đoạn điều tra nên không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 01 (một) thẻ ATM, màu đen, số tài khoản: 69961686 thuộc ngân hàng Quân đội MB; 01 (một) kẹp giấy A4, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ, xung quanh dấu có khắc dòng chữ HỘI ĐỒNG XỔ SỐ MIỀN BẮC HÀ NỘI*ÍCH NƯỚC LỢI NHÀ, ở giữa dấu có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Thịnh, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ XỔ SỐ MIỀN BẮC ĐÃ KIỂM DUYỆT, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ THU NGÂN ĐÃ THU TIỀN, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Thịnh, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ HĐXS-XSMB ĐÃ KIỂM ĐỊNH, đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01(một) chiếc điện thoại Iphone XS MAX, màu vàng, số IMEI: 357290094499247, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) cây máy tính nhãn hiệu PULLER, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) màn hình máy tính, nhãn hiệu LG, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) bàn phím máy tính, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) máy in, nhãn hiệu CANON, màu trắng, đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng trên hiện được bàn giao tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, số tiền án phí phải nộp được đối trừ vào số tiền mà bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0001627 ngày 17/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, Điều 174; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện U, thành phố Hà Nội, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan, Chính quyền địa phương nơi cư trú trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của BLHS; Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Võ Văn H số tiền 12.500.000 đồng, số tiền bồi thường trong quá trình điều tra được giữ trong tài khoản mang tên Luu Duc Hai là 1.558.555 đồng đã được thu nộp theo giấy Ủy nhiệm chi của Công an huyện H chuyển khoản 3949.0.9013540 tại Kho bạc Nhà nước và số tiền gia đình bị cáo nộp 10.941.445 đồng, theo biên lai thu tiền số 0001626 ngày 16/5/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự, để bảo đảm bồi thường cho anh Võ Văn H. Đối với anh Vũ Văn Đ bị chiếm đoạt số tiền 3.500.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường trong giai đoạn điều tra nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ ATM, màu đen, có số tài khoản: 69961686 thuộc ngân hàng Quân đội MB phát hành; 01 (một) kẹp giấy A4, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ, xung quanh dấu có khắc dòng chữ HỘI ĐỒNG XỔ SỐ MIỀN BẮC HÀ NỘI*ÍCH NƯỚC LỢI NHÀ, ở giữa dấu có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Thịnh, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ XỔ SỐ MIỀN BẮC ĐÃ KIỂM DUYỆT, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ THU NGÂN ĐÃ THU TIỀN, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ GIÁM ĐỐC Lê Đức Th, đã qua sử dụng; 01 (một) con dấu đỏ có khắc dòng chữ HĐXS-XSMB ĐÃ KIỂM ĐỊNH, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 (một) chiếc điện thoại Iphone XS MAX, màu vàng, số IMEI: 357290094499247, tình trạng đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại bị vỡ kính; 01 (một) cây máy tính, nhãn hiệu PULLER, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) màn hình máy tính, nhãn hiệu LG, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) bàn phím máy tính, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) máy in, nhãn hiệu CANON, màu trắng, đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng trên được bàn giao, bảo quản tại Chi cục Thi hành án huyện H, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày …tháng 5 năm 2024 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016 /UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, số tiền phải
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 61, 62 và Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết tại trụ sở UBND xã nơi cư trú.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND huyện H; - Bị hại; NCQLNVLQ; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện H; - Thi hành án DS huyện H; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Nghi |