vanban.org

Bản án 19/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre Tuyên án 11/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Thành Tphạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Cao Thành T02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Thành T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Thành Tphạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày: 11/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H1XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Gia Ảnh.

2. Ông Nguyễn Văn Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Thành T(Tên gọi khác: C), sinh ngày 26/12/1983 tại huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú: 44/53 ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Thành K và bà Huỳnh Kim L; Bị cáo là con thứ trong gia đình có 07 anh chị em.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Nhân thân:

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-UBND ngày 29/02/2016 bị Ủy ban nhân dân xã V xử phạt vi phạm hành chính Cao Thành Tsố tiền 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, chưa nộp phạt.

- Tại Quyết định số 31/QĐ-XPHC ngày 24/4/2017 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với Cao Thành Tsố tiền 750.000đồng về hành vi đánh nhau, đã nộp phạt xong ngày 25/4/2017.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phạm Văn L, sinh năm 1976. Có mặt

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Huỳnh Kim L, sinh năm 1949. Có mặt

Địa chỉ: 44/53 ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Văn T, sinh năm 1953. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.

+ Dương Văn P, sinh năm 1980. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

+ Nguyễn Văn P, sinh năm 1984. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp H12, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.

+ Nguyễn Văn H, sinh năm 1967. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp H1Lộc, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.

+ Nguyễn Văn C, sinh năm 1974. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 04/01/2022 tại nhà ông Nguyễn Văn T ở ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre có tổ chức tiệc rượu; tham gia gồm có ông T, Cao Thành T, ông Phạm Văn L, ông Nguyễn Văn C, anh Dương Văn P, ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn P và một số người khác. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì Tvà ông Lxảy ra cự cãi to tiếng, Txô ngã bàn tiệc nên ông T kêu Tvề nghỉ, Tđi về nhà, khi về đến nhà nhìn thấy 01 con dao bằng kim loại, dài 24cm, rộng 05cm, lưỡi dao dài 15cm, cán dao dài 09cm, mũi dao bằng đang để trên bàn, do bực tức sự việc lúc nhậu nên Tnảy sinh ý định chém ông L, Tlấy con dao và điều khiển xe mô tô quay lại nhà ông T, lúc này khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này tại nhà ông T còn ông L, ông H, ông C, anh P, anh P đang ngồi nhậu, ông T nghỉ nằm võng trong nhà. Tcầm con dao trên tay trái đi nhanh vào chỗ bàn nhậu, đẩy ngã ông H1và cầm dao trên tay trái chém một cái vào gò má phải của ông Lgây thương tích, sau đó Tmang dao về nhà. Ông Lđược đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực C. Ngày 07/01/2022, ông Lđến Công an xã V, huyện C trình báo sự việc và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, xử lý hành vi của T. Sau khi chém ông L Tđã đi làm thuê tại tỉnh Bình Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định truy tìm, đến ngày 04/10/2023 Tđến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú, thừa nhận hành vi chém ông Lvà giao nộp con dao gây án.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 04/CN ngày 18/01/2022 của Bệnh viện đa khoa khu vực C chứng nhận tình trạng thương tích lúc vào viện của ông Phạm Văn Lũy:

- Sưng vùng Tdương – mặt bên phải.

- Tê môi trên bên phải.

- Mắt phải nhắm không kín.

- Một vết thương đã khâu dài từ Tdương đến má phải khoảng 15cm.

- Đau mặt bên phải.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 04/CN ngày 18/01/2022 của Bệnh viện đa khoa khu vực C chứng nhận tình trạng thương tích lúc vào viện của ông Phạm Văn Lũy:

Mắt phải hở mi độ I, kết mạc hồng, giác mạc trong, tiền phòng sâu, sạch, đồng tử #3mm, PXAS (+), thủy thể trong.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 22-0122/TgT ngày 26/01/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Bến Tre kết luận thương tích của ông Phạm Văn Lũy:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sưng nề vùng Tdương – mặt bên phải: hiện đã hết.

- Vết thương đã khâu dài từ Tdương đến má phải khoảng 15cm, hiện đã lành sẹo (chân rết) kích thước: 10cm x 0,3cm.

- Mắt phải nhắm không kín: hở độ 1, kết mạc hồng, giác mạc trong, tiền phòng sâu, sạch, đồng tử # 03mm, PXAS (+), thủy tinh thể trong. Hiện: mắt phải nhìn mờ, nhắm không kín.

- Khám chuyên khoa mắt kiểm tra ngày 25/01/2022 kết luận: Mắt phải hở mi do sẹo xấu vùng má phải, Tdương phải co kéo/khô mắt.

- Tê môi trên bên phải: từ vùng cánh mũi phải đến môi trên bên phải.

2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 16% (mười sáu phần trăm). Căn cứ T tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế để xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

- Vết thương trên vùng mặt của ông Phạm Văn Llà do vật sắc nhọn gây ra.

- Cơ chế hình thành thương tích là do tác động của ngoại lực.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 374/23/VBVGTT-TTPYBT ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Bến Tre kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Con dao có đặc tính gây thương tích của vật tày, vật sắc.

- Cạnh sắc của con dao có mối tương quan với tổn thương trên cơ thể của ông Phạm Văn Lũy.

2. Kết luận:

- Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến có đặc tính gây thương tích phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định con dao gửi giám định khi còn nguyên, sắc bén, tại thời điểm xảy ra vụ án có thể gây ra được thương tích của ông Phạm Văn Lũy.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích là:

+ Sưng nề vùng Tdương – mặt bên phải hiện đã hết: 00% (không phần trăm).

+ Vết thương đã khâu dài từ Tdương đến má phải khoảng 15cm, hiện đã lành sẹo xấu (chân rết), kích thước trung bình: 06% (sáu phần trăm).

+ Mắt phải nhắm không kín: hở độ I, kết mạc hồng, giác mạc trong, tiền phòng sâu, sạch, đồng tử #3mm, PXAS (+), thủy tinh thể trong. Hiện: mắt phải nhìn mờ, nhắm không kín: 11% (mười một phần trăm).

Vật chứng thu giữ: 01 (một) con dao bằng kim loại bị rỉ sét, sứt rời phần cán và phần lưỡi, dài 24cm, rộng 05cm, lưỡi dao dài 15cm, cán dao dài 09cm, mũi dao bằng.

Cáo trạng số 14/CT - VKSCL ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Cao Thành Tvề tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Cao Thành Tvà đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Cao Thành Tphạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Thành Ttừ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại bị rỉ sét, sứt rời phần cán và phần lưỡi, dài 24cm, rộng 05cm, lưỡi dao dài 15cm, cán dao dài 09cm, mũi dao bằng là công cụ gây án do chủ sở hữu là bà Huỳnh Kim L không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.

-Về trách nhiệm dân sự:

Đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo, bị hại có mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại tòa nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại tòa phù hợp lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/01/2022, tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre, mặc dù không có mâu thuẫn gì lớn nhưng với bản tính hung hăng, côn đồ Cao Thành Tđã dùng một con dao có chiều dài 24cm, rộng 05cm, lưỡi dao dài 15cm, cán dao dài 09cm, mũi dao bằng, có 01 bề bén chém 01 cái trúng vào gò má bên phải của ông Phạm Văn Lgây thương tích. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Llà 16% (Mười sáu phần trăm).

. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng vì không kiềm chế được bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành. Hành vi này đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của Phạm Văn Lđây là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Mặc dù tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại qua giám định là 16% nhưng bị cáo đã có hành vi dùng một con dao có chiều dài 24cm, rộng 05cm, lưỡi dao dài 15cm, cán dao dài 09cm, mũi dao bằng, có 01 bề bén là hung khí nguy hiểm đồng thời giữa bị cáo và ông Lkhông có mâu thuẩn gì lớn nhưng bị cáo dùng dao chém vào người của ông Lđây là hai tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ và đúng người, đúng tội, không oan sai.

. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, đầu thú, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ là người cao tuổi là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng xét tính chất, mức độ hình vi phạm tội Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý hoang moang, bất an trong quần chúng nhân dân. Với nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và đồng thới có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Cao Thành Tphạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1.Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Thành T02 năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

2.Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại bị rỉ sét, sứt rời phần cán và phần lưỡi, dài 24cm, rộng 05cm, lưỡi dao dài 15cm, cán dao dài 09cm, mũi dao bằng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre).

3.Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Cao Thành T phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ